Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

CHĂM SÓC VÀ XỬ TRÍ VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM

24,751 views

Published on

CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH

Published in: Health & Medicine
  • Login to see the comments

CHĂM SÓC VÀ XỬ TRÍ VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM

  1. 1. CHĂM SÓC VÀ XỬ TRÍ VẾT THƢƠNG PHẦN MỀM Mục tiêu: - Biết dược cách phân loại vết thương - Biết các kiểu lành vết thương - Biết cách xử trí một vết thương nhiễm 1. Khái niệm: Vết thương được định nghĩa chung là sự mất liên tục của bất cứ phần nào của cơ thể do chấn thương, bao gồm những tổn thương do tác động cơ học và tổn thương do chất hoá học, nhiệt, tia xạ. Vết thương lành nhanh nhất là vết thương vô khuẩn và được may kì đầu. Cho đến nay, không có chất nào có thể làm cho vết thương lành nhanh hơn được. Chăm sóc và xử trí vết thương phần mềm nhằm mục đích là loại trừ hoặc ngăn ngừa những yếu tố, tác nhân cản trở sự lành bình thường của vết thương. 2. Phân loại vết thương: 2.1 Theo cơ chế vết thương Vết thương do rạch: do dụng cụ sắc, bén, nhọn, có tổn thương giải phẫu như đứt cơ, mạch máu… nhưng nguy cơ chính là nhiễm trùng. Vết thương bầm giập: do vật tù, đặc trưng như tổn thương phần mềm có chảy máu, tổn thương giải phẫu nhiều, sưng, nhiễm trùng, có nhiều mô giập nát. Vết thương rách nát: là vết thương bờ lởm chởm không đều, tổn thương giải phẫu nhiều, nhiễm trùng tăng cao, lành vết thương chậm và sẹo xấu. Vết thương thủng: do dao đâm, đạn bắn, lỗ vào nhỏ nhưng lỗ ra lớn và tổn thương giải phẫu nhiều. 2.2 Theo mức độ ô nhiễm Vết thương sạch: là vết thương ngoại khoa không bị nhiễm khuẩn. Vết thương không mở vào đường hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu. Ví dụ: vết mổ cắt tuyến giáp. Tỉ lệ nhiễm trùng của vết thương sạch là 1,5-5,1% Vết thương sạch-nhiễm: là vết thương theo kĩ thuật vô khuẩn có mở của hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu tuy nhiên không có sự tràn dịch đáng kể từ các cơ quan này. Ví dụ: vết mổ cắt túi mật (không viêm). Tỉ lệ nhiễm trùng của vết thương sạch-nhiễm là 7,7-10,8% Vết thương nhiễm: vết thương do chấn thương, tai nạn, vết thương phẫu thuật có chảy dịch tiêu hoá nhiều, hoặc mở vào mô mềm, dịch mật, nước tiểu đang có tình trạng
  2. 2. nhiễm trùng. Ví dụ: vết mổ viêm túi mật có làm thủng túi mật. Tỉ lệ nhiễm trùng của vết thương nhiễm là 15,2-16,3% Vết thương bẩn: vết thương có mủ và có nguồn gốc bẩn trước. Tỉ lệ nhiễm trùng của vết thương bẩn là 28 – 40% 2.3 Theo nguyên nhân Phẫu thuật: do vết rạch hay cắt lọc. Chấn thương: do cơ học, do nhiệt độ, do hoá chất. 1.4. Theo thời gian Vết thương cấp tính: Vết thương mới: vết thương được chăm sóc trong vòng 8 giờ Vết thương trễ: vết thương được chăm sóc >= 8h sau tổn thương Vết thương mạn tính: loét giường, bàn chân tiểu đường, rò vết thương do lao thường kéo dài thời gian lành vết thương. Nguyên nhân chậm lành vết thương do tiểu đường, tuần hoàn kém, tình trạng dinh dưỡng kém, giảm sức đề kháng. Vết thương mạn tính thường có nhiều mô hoại tử, vì thế việc điều trị thường kèm theo cắt lọc vết thương và chăm sóc tốt. 3. Các hình thức lành vết thương: 3.1 Lành nguyên phát (kì đầu) Vết thương không nhiễm trùng, không đọng máu, không ngoại vật, không ổ hoại tử, các mép vết thương khép chặt vào nhau, có sinh lực tốt và có fibrin giữ 2 mép vết thương giúp vết thương liền trong thời kỳ đầu, vì thế sẹo nhỏ, đẹp. 3.2 Lành thứ phát (kì hai) Liền bằng tổ chức hạt. 3.3 Lành kì ba (kì đầu muộn) Vết thương không được may liền mà được chăm sóc một thời gian để hết nhiễm khuẩn, mô hoại tử, và được khâu lại. Hình 1. Các kiểu lành vết thương
  3. 3. 4. Xử trí các loại vết thương 4.1 Vết thương sạch: Vết thương sạch là đường mổ qua mô bình thường trong tình trạng vô khuẩn. Tất cả các vết thương còn lại đều xem như không phải là vết thương sạch. Để đảm bảo vết thương sạch, khi phẫu thuật cần phải lưu ý: - Cắt lông và rửa cẩn thận vùng da xung quanh vị trí phẫu thuật bằng thuốc sát khuẩn - Khi mổ phải rửa lại vị trí mổ bằng dung dịch xà phòng sát khuẩn, sau đó là dung dịch sát khuẩn - Bờ mép da vùng mổ phải được che chắn cẩn thận ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập từ phần da xung quanh. Xử trí vết thƣơng sạch: - Cầm máu cẩn thận, tránh có cục máu đông ở giữa làm cản trở quá trình lành vết thương. - Hạn chế dị vật, ví dụ: chỉ khâu. - Đường mổ cần được khâu lại theo đúng theo các lớp giải phẫu, không được để lại khoảng chết. - Rửa lại phẫu trường bằng nước đẳng trương. - Sát trùng lại vùng da quanh vết thương bằng thuốc sát trùng. - Khâu da. Không cần thiết dùng nhiều chỉ khâu và chỉ cần dùng mũi khâu rời với nút vuông là đủ. 4.2 Vết thương sạch nhiễm: Xử trí như vết thương sạch, khi đóng da chú ý rửa vết mổ với thật nhiều nước đẳng trương. Tuỳ tình trạng nhiễm có thể đặt ống dẫn lưu hoặc không. Kháng sinh phù hợp. 4.3 Vết thương nhiễm: Mục tiêu chính trong việc xử trí vết thương nhiễm là biến nó thành một vết thương sạch. Vết thương nhiễm được xử trí như sau: - Đắp 1 miếng gạc vô khuẩn lên vết thương, cắt lông xung quanh, lau bờ mép vết thương bằng xà phòng khử khuẩn, sát khuẩn da xung quanh (không đổ vào vết thương). - Khu trú vết thương bằng khăn trải vô khuẩn. - Gây tê (nếu cần) - Bỏ miếng gạc ra và chuẩn bị cắt lọc vết thương. Đây là thì quan trọng nhất. Cắt lọc giúp loại bỏ mô hoại tử, dị vật giúp hạn chế nhiễm khuẩn và tạo điều kiện cho vết thương lành tốt. Việc cắt lọc được tiến hành bằng dụng cụ bén (dao hoặc kéo) và làm từ nông đến sâu. Ban đầu là mép da nham nhở của vết thương rồi đếm mô dưới da, mô mỡ, cân cơ, mạch máu. Đôi khi khó xác định ranh giới giữa mô hoại tử và mô còn sống. Ví dụ, với cơ, màu sắc không có giá trị, ta phải đánh giá bằng kích thích, nếu cơ co là còn sống. Những mô như cân da đầu, cân cơ và gân có thẻ sống
  4. 4. được nếu được che phủ bằng một vạt có máu nuôi dồi dào. Nhưng mô này không nên cắt bỏ. Hình 2. Đắp gạc và rửa xung quanh Hình 3. Cắt lọc với dụng cụ bén Hình 4. Cắt lọc từ nông đến sâu và rửa vết thương với nước có áp lực cao - Rửa vết thương với thật nhiều nước đẳng trương có áp lực cao. Có thể pha thêm kháng sinh vào dung dịch rửa. Đối với vết thương có nhiếu ngóc ngách, có thể pha thêm dung dịch oxy già để rửa vết thương. Mục đích của rửa vết tương là loại bỏ dị vật, mô hoại tử và vi khuẩn. - Che phủ lại vết thương đã xử trí bằng gạc vô khuẩn. Bỏ tấm trải, thay găng, sát trùng lại xung quanh vết thương và thay tấm trải mới. - Cầm máu kĩ, kiểm soát các mao quản đang chảy máu rỉ rả bằng gạc nước ấm hoặc oxy già. - Đến đây, tuỳ tình hình tại chổ mà ta có nhiều cách xử trí: + Khâu lại vết thương không dẫn lưu + Khâu lại vết thương có dẫn lưu (± hút áp lực âm)
  5. 5. + Để hở vết thương và băng lại bằng gạc. Khâu lại sau 2-5 ngày nếu vết thương tiến triển tốt. + Để hở da cho lành kì hai - Băng ép, bất động, kê cao - Kháng sinh phù hợp 4.4 Vết thương bẩn: Nguyên tắc điều trị vết thương bẩn gồm: - Cô lập ổ nhiễm trùng, không đễ ổ nhiễm trùng lây nhiễm sang các khoang, mô lân cận khác. - Thoát lưu ổ mủ - Tiệt khuẩn vùng nhiễm khuẩn - Che phủ bề mặt vết thương - Kháng sinh phù hợp Rạch thoát lưu ổ mủ được tiến hành khi ổ mủ có dấu hiệu “phập phều”, khi rạch cần chú ý: - Không nguy hiểm: không được cắt vào cấu trúc quan trọng như gân, thần kinh, mạch máu, ổ khớp. - Không làm hư hoại thêm mô và lượng máu nuôi. Nên gây mê hoặc tê vùng hơn tê tại chỗ. - Đường rạch đi trực tiếp và ngắn nhất vào ổ nhiễm khuẩn. Chú ý thoát lưu mủ theo chiều trọng lực - Đường rạch đủ rộng nhưng không vi phạm qua mô lành. - Dẫn lưu và để hở đường rạch - Áp dụng kỹ thuật vô khuẩn trong khi rạch và thay băng. 5. Biến chứng Chảy máu, tụ máu: Nhiễm khuẩn vết thương Sẹo xấu + Sẹo lồi + Sẹo phì đại: + Sẹo co rút + Sẹo ung thư hoá TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Hồng Ri (2007), “Chăm sóc và xử trí vết thương”, Phẫu Thuật Thực Hành, Nhà xuất bản y học, TP.HCM, tr 88- 99. 2. David G. Burris (2004), “Soft-Tissue Injuries”, Emergency War Surgery, Walter Reed Army Medical Center, Texas, pp. 22.1- 22.15 3. Thomas Lawrence (2006), “Acute wound care”, ACS Surgery: Principles and Practice, Web MD 4. Mihály Boros (2006), "Wound", Surgical Techniques, Innovariant Ltd., Szeged, pp. 76-87. 5. Jacqueline Rhoads (2008), Wound Care, F. A. Davis Company, Philadelphia, pp.488-510.

×