Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO
P...
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO
P...
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng
theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ...
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... ...
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
2.1 Một số chỉ tiêu về huy động vốn tại MBBank Đà Nẵng 28
2.2 Dư nợ cho vay ...
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong vòng quay của sự phát triển nền kinh tế nói chung, nền kinh tế nước nhà
nói ri...
2
Từ đó tạo hành lang pháp lý an toàn cho các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
hoạt động, phát triển quy mô của tổ chứ...
3
hoàn thiện trong thực tiễn hoạt động của các tổ chức tín dụng trong đó có Ngân
hàng TMCP Quân đội từ đó đưa ra các quan ...
4
ứng khác nhau trong giới chuyên môn. Những bài viết này chủ yếu xem xét lãi suất
dưới góc độ kinh tế và vai trò của lãi ...
5
đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam hiện nay, từ đó phát hiện những bất cập,
tồn tại về mặt pháp lý trong thực tiễn áp...
6
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực
tiễn kiểm chứn...
7
Chương 1: Lý luận chung về lãi suất trong hợp đồng tín dụng.
Chương 2: Những vấn đề thực tiễn về lãi suất trong hợp đồng...
8
CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1. Khái quát về hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm
Hợp đồng...
9
hệ dân sự nên HĐTD cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Từ khái niệm
hợp đồng được quy định theo Điều 385 BLDS n...
10
khác, theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 405 BLDS 2015, pháp luật cũng có cơ chế để
bảo vệ khách hàng trong trường hợp hợp đồng...
11
luật các tổ chức tín dụng 2010 thì “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành
lập theo quy định của Luật này và các q...
12
18 của Quy chế cho vay. Đây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ,
rõ ràng trong thoả thuận của các bên v...
13
và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và chủ thể đi
vay. Một trong những điều khoản không th...
14
- Căn cứ vào tính chất khoản vay
Bao gồm những loại lãi suất cơ bản nhất được ngân hàng áp dụng cho khách
hàng khi muốn...
15
người vay tiền có thể quyết định vay hay không. Tuy vậy lãi suất cố định lại hạn
chế khi không được thay đổi trong thời...
Mã tài liệu : 600068
Tải đầy đủ luận văn theo 2 cách :
- Link tải dưới bình luận .
- Nhắn tin zalo 0932091562
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng

với đề tài về: “ Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng ” bản thân tôi nhận thấy vai trò cũng như tầm quan trọng to lớn của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay

  • Login to see the comments

  • Be the first to like this

Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng

  1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2018
  2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Luật kinh tế Mã số : 838.01.07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐINH DŨNG SỸ HÀ NỘI, năm 2018
  3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn hoạt động tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng ” là do tác giả thực hiện dưới dự hướng dẫn của PGS.TS. Đinh Dũng Sỹ . Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực. Kết quả nghiên cứu của luận văn dựa trên quá trình thu thập thông tin, khảo sát. Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình. Tác giả luận văn Lê Nguyễn Đông Quân
  4. 4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG....................................................................................................... 8 1.1. Khái quát về hợp đồng tín dụng................................................................. 8 1.2 Lãi suất...................................................................................................... 12 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG............................................ 22 2.1. Các quy định của pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng............. 22 2.2. Tổng quan về tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân đội- CN Đà Nẵng........................................................................................................... 24 2.3. Thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội- Chi nhánh Đà Nẵng............. 34 2.4. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng theo Pháp luật Việt Nam từ hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng...................................................................................... 55 CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI- CN ĐÀ NẴNG................ 60 3.1. Định hướng phát triển pháp luật về lãi suất tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng......................................................... 60 3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về lãi suất Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng.................................................................. 62 3.3. Phương pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng......................................................... 71 KẾT LUẬN.................................................................................................... 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  5. 5. DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 Một số chỉ tiêu về huy động vốn tại MBBank Đà Nẵng 28 2.2 Dư nợ cho vay giai đoạn năm 2015 đến 2017 30 2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh từ năm 2015 – 2017 32 DANH MỤC CÁC HÌNH Số hiệu hình Tên hình Trang 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức 25 2.2 Biểu đồ dư nợ cho vay theo ngành kinh tế năm 2017 31
  6. 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong vòng quay của sự phát triển nền kinh tế nói chung, nền kinh tế nước nhà nói riêng, việc hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng và là định hướng hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Việt Nam với tư cách là một chủ thể độc lập trong sự phát triển chung của nền kinh tế quốc tế đã và đang từng bước đi lên và đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều phương diện từ kinh tế, xã hội, trong đó đáng chú ý và nổi bật hơn cả là sự trở mình trong lĩnh vực kinh tế, điều lột xác rõ rệt nhất trong sự trở mình của sự thay đổi đó nằm ở nền kinh tế ngân hàng. Trong suốt giai đoạn vừa qua, nền kinh tế ngân hàng đã từng bước đạt được những kết quả quan trọng, trong đó phải kể đến sự tập trung quản lý có hệ thống các công cụ lãi suất – một điểm được coi là một góc cạnh nhạy cảm, phức tạp, nóng bỏng nhất, thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội. Lãi suất với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ, là công cụ để đo lường, đánh giá hiện trạng "sức khỏe" của một nền kinh tế. Đặc biệt trong cơ chế thị trường, lãi suất trở thành công cụ đắc lực để Ngân hàng nhà nước thực thi chính sách tiền tệ nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, lãi suất còn là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu trên vấn đề tiền tệ, nói một cách dễ hiểu, lãi suất phản ánh được sự chênh lệch của việc xác định một cách ngoại sinh các vấn đề nguồn cung tiền tệ mặc khác vừa phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền, từ đó tạo ra một góc cạnh đánh giá được sự biến động của cán cân tiền tệ trong sự phát triển tín dụng của hệ thống ngân hàng từ đó tạo cơ sở cho các doanh nghiệp đề ra những phương án, chiến lược phát triển có hiệu quả, mặt khác tạo một góc nhìn góp phần làm tiền đề cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách quản lý phù hợp, hiệu quả và thống nhất.
  7. 7. 2 Từ đó tạo hành lang pháp lý an toàn cho các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước hoạt động, phát triển quy mô của tổ chức mình, giúp các chủ thể trong nước tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài, nhất là khi nước ta bước chân vào kỷ nguyên của sự hội nhập. Xét trên tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả của chính phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, có tầm ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả quốc gia. Và đứng ở tầm vi mô, lãi suất là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra quyết định của mình như chi tiêu hay để dành tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh hay cho vay hoặc gởi tiền vào ngân hàng. Chính vì vậy, lãi suất không chỉ là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp, đa dạng và phức tạp mà đó còn là một trong những công cụ quản lý và điều tiết chính sách tiền tệ của Nhà nước có tầm ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và sự ổn định trong hệ thống tín dụng nói riêng. Với cách nhìn nhận đúng đắn, trong những năm qua hệ thống về lãi suất tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội tên giao dịch tiếng Anh là Military Commercial Joint Stock Bank được viết tắt là MB đã không ngừng phát triển về quy mô cung ứng các kênh lãi suất cũng như nâng cao chất lượng của hoạt động liên quan, song ở mảng này vẫn còn một số điểm đang tiếp tục hoàn thiện nên những thành tựu mang lại từ các dịch vụ phát sinh từ kênh lãi suất chưa thật sự đạt được thành quả tốt nhất, chưa tương xứng với vị trí của một trong những ngân hàng có rất nhiều thế mạnh về vốn, thương hiệu, thị trường, khách hàng, chất lượng cũng như dịch vụ. Vì vậy, với đề tài về: “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng” bản thân tôi nhận thấy vai trò cũng như tầm quan trọng to lớn của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay. Bởi lẽ, việc lựa chọn đề tài này xuất phát từ mong muốn giúp các cơ quan Nhà nước có một kênh tham khảo, một góc nhìn cận cảnh, về khía cạnh hoạt động của các tổ chức tín dụng, qua đó nhận thấy được sự khó khăn, những điểm cần
  8. 8. 3 hoàn thiện trong thực tiễn hoạt động của các tổ chức tín dụng trong đó có Ngân hàng TMCP Quân đội từ đó đưa ra các quan điểm, các đánh giá cũng như các giải pháp hiệu quả nhất tạo hiệu quả tối đa trong bản thân hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân đội góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Sau khi Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 và Luật các TCTD năm 2010 được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng nhưng các công trình này chỉ nghiên cứu về các chế độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết, thực hiện tuân thủ về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại một TCTD như: Luận văn thạc sĩ luật học "Chế độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Láng Hạ" của tác giả Bùi Thị Nga, (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007); Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung nhất định của lãi suất trong hợp đồng tín dụng như bài viết của tác giả Nguyễn Văn Vân "Mấy vấn đề suy nghĩ về bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng", đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý số 3/2000; Luận án Phó tiến sĩ khoa học kinh tế “Phương pháp xác định lãi suất ngân hàng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Loan năm 1996 và hai khóa luận tốt nghiệp năm 2009 “Tự do hóa lãi suất và tác động đối với nền kinh tế Việt Nam” của Nguyễn Minh Tuấn và “Giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam” của Võ Thị Thùy Trang Luận văn thạc sỹ tác giả Dương Thu Phương “Lãi suất trong hợp đông vay tiền và tác động của nó đến nền kinh tế hiện nay”, (Trường Đại học Luật Hà Nội- Năm 2009) Bên cạnh đó, có rất nhiều bài viết trên các tạp chí như Tạp chí ngân hàng, Tạp chí tài chính cũng nghiên cứu về lãi suất. Đặc biệt trong thời gian từ năm 2008 đến nay, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, thị trường tài chính Việt Nam cũng có nhiều biến động nên NHNN đã có chính sách về lãi suất tạo những phản
  9. 9. 4 ứng khác nhau trong giới chuyên môn. Những bài viết này chủ yếu xem xét lãi suất dưới góc độ kinh tế và vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường hoặc đánh giá dưới góc độ lập pháp và hành pháp về cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và các đề tài khác cũng như các bài báo liên quan đến vấn đề lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã được Tác giả tham khảo và làm rõ hơn trong luận văn nghiên cứu về phát triển hoạt động cho vay trong đó chú trọng đến yếu tố lãi xuất tại tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Đà Nẵng. Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải quyết vấn đề này ở một góc độ khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về vấn đề hợp đồng mà trong đó là các yếu tố lãi suất cho vay tại các NHTM, đặc biệt theo quy định của Luật các TCTD năm 2010 được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng” vẫn mang tính cấp thiết cần phải nghiên cứu và làm sáng rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam mà thực tiễn là Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp, đặc biệt là các giải pháp pháp lý nhằm đảm bảo cho các hoạt động trên. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về Lãi suất trong hợp đồng cho vay tại các NHTM và pháp luật về lãi suất như khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý của lãi suất; Pháp luật về lãi suất, nội dung của pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng. Đánh giá tổng quan và phân tích thực trạng pháp luật về lãi suất trong hợp
  10. 10. 5 đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam hiện nay, từ đó phát hiện những bất cập, tồn tại về mặt pháp lý trong thực tiễn áp dụng lãi suất trong hợp đồng tín dụng. Trên cơ sở những bất cập, tác giả đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và phát triển hệ thống pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu đề tài là thực trạng pháp luật về lãi suất và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hoạt động tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các văn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng tín dụng tại các NHTM và các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của các TCTD trong giai đoạn hiện nay. Phạm vi nghiên cứu của đề tài không bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động của các TCTD nói chung, NHTM nói riêng mà giới hạn ở các quy phạm pháp luật điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng được ký kết bởi các NHTM và khách hàng cũng như một số vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình cho vay của NHTM. Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sỹ, học viên chưa có nhiều sự hiểu biết chuyên sâu, cũng như sự hạn chế về thời gian nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, học viên mong nhận được sự góp ý đánh giá từ các thầy cô hướng dẫn để đề tài có thể hoàn thiện hơn. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong qua trình đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền.
  11. 11. 6 5.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực tiễn kiểm chứng lý luận. Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành luận văn. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân về một số vấn đề lý luận và thực tiễn của lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các NHTM để hoàn thành chương trình học tập và báo cáo tốt nghiệp lớp Cao học Luật kinh tế khóa VII ( đợt 1) năm 2016 của Học viện Khoa học Xã hội, việc nghiên cứu đề tài còn có ý nghĩa đi sâu phân tích khái niệm, đặc điểm, hình thức pháp lý, thời điểm có hiệu lực của lãi suất trong hợp đồng tín dụng, bản chất pháp lý của lãi suất trong hợp đồng tín dụng. Từ đó tiếp tục đi sâu nghiên cứu pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng cũng như các đặc điểm và nội dung về lãi suất trong hợp đồng tín dụng theo pháp luật hiện hành, từ đó tác giả kết hợp với việc nghiên cứu, so sánh pháp luật lãi suất trong hợp đồng tín dụng hiện nay giữa các văn bản pháp luật có liên quan cùng điều chỉnh để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp luật. 6.2. Ý nghĩa thưc tiễn Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về lãi suất trong hợp đồng tín dụng hiện hành. Bên cạnh đó, luận văn còn đi sâu phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật lãi suất trong hợp đồng tín dụng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện lãi suất trong hợp đồng tín dụng, đồng thời đề xuất hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng trong thời gian tới. 7. Cơ cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
  12. 12. 7 Chương 1: Lý luận chung về lãi suất trong hợp đồng tín dụng. Chương 2: Những vấn đề thực tiễn về lãi suất trong hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng. Chương 3: Giải pháp phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống lãi suất cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng.
  13. 13. 8 CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1.1. Khái quát về hợp đồng tín dụng 1.1.1. Khái niệm Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2017. Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng trong đó chủ yếu là các ngân hàng (sau đây gọi chung là ngân hàng). Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cách hiểu đối với hợp đồng tín dụng bằng phương pháp phân tích câu từ là như vậy, một câu hỏi đặt ra là vì sao ở đây chúng ta không trích dẫn cách hiểu từ một văn bản luật hay môt văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khái niệm này? Câu trả lời là bởi lẽ trước đây trong Luật Các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) có quy định như sau: Việc cho vay phải được lập thành HĐTD. HĐTD phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận, tuy nhiên đến khi luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được ban hành thì khái niệm này đã bị thay thế bởi “cụm từ” cấp tín dụng, theo đó trong luật các tổ chức tín dụng năm 2010 tại Điều 4, Khoản 14 có quy định : “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Như vậy pháp luật chuyên ngành chỉ đưa ra quy định về những nội dung cơ bản HĐTD phải có mà không đưa ra một định nghĩa cụ thể về HĐTD. Trong hợp đồng tín dụng mà cụ thể đối tượng chính là quan hệ tín dụng bản chất là một quan
  14. 14. 9 hệ dân sự nên HĐTD cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Từ khái niệm hợp đồng được quy định theo Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”, từ cách giải thích từ BLDS trên ta có thể nhân rộng ra thành “HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển giao một số tiền tệ cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo cách hiểu hiện nay, khi nói đến HĐTD nghĩa là nói đến HĐTD ngân hàng, do đó trong luận văn nghiên cứu thạc sỹ lần này để có sự thống nhất chỉ sử dụng thuật ngữ HĐTD. Trong phạm vi nghiên cứu của công trình này, HĐTD được đề cập từ đây về sau là HĐTD giữa TCTD và khách hàng vay vốn. 1.1.2. Đặc điểm HĐTD mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự song vụ nhưng vẫn có những nét khác biệt cụ thể như sau: Thứ nhất, về hình thức, HĐTD bắt buộc phải được lập thành văn bản, hầu hết là hợp đồng theo mẫu. Việc tồn tại HĐTD bằng lời nói là không khả thi bởi tầm quan trọng của việc giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD. Với HĐTD bằng văn bản, các bên có thể thực hiện hợp đồng trong sự đảm bảo an toàn trong khuôn khổ pháp lí và tất nhiên, khi có tranh chấp xảy ra, HĐTD sẽ là căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp. Đa phần các HĐTD là hợp đồng theo mẫu, chủ thể cho vay là TCTD soạn thảo dựa trên các quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD. Bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản trong hợp đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu sửa đổi điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình. Trong hợp đồng tín dụng sự tự do ý chí trong việc giao kết được thể hiện thông qua việc khách hàng đồng ý giao kết hợp đồng, điều đó đồng nghĩa với câu chuyện khách chấp nhận những điều khoản trong đó, ngược lại thì không giao kết. Thực tế cho thấy việc thỏa thuận, sửa đổi, một số điều khoản trong HĐTD theo mẫu chỉ xảy ra với những tổ chức, cá nhân có uy tín, khoản vay lớn và TCTD có thể thu được lợi nhuận lớn từ hợp đồng. Mặt
  15. 15. 10 khác, theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 405 BLDS 2015, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ khách hàng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Về tên gọi của HĐTD có thể đặt dưới nhiều tên khác nhau tùy thuộc vào tính chất, bản chất và đối tượng của hợp đồng: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay, khế ước vay vốn. Hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay, mục đích vay, hợp đồng có thể có thêm các cụm từ: “ngắn hạn”, “trung hạn”, “dài hạn”, “đồng Việt Nam”, “ngoại tệ”, “tiêu dùng”, “đầu tư”… Thứ hai, HĐTD có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ. Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ; tồn tại dưới dạng tiền mặt, vật hiện hữu hoặc bút tệ. Với vai trò phương tiện thanh toán – vai trò quan trọng nhất của tiền – vốn tiền tệ có thể đáp ứng mọi nhu cầu của bên vay một cách dễ dàng nhất, kể cả về số lượng vốn vay và mục đích vay. Nhờ đó hoạt động cho vay đã trở thành hoạt động sinh lời chủ yếu của các TCTD và trở thành một hình thức tín dụng khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Nếu trong quan hệ tín dụng giữa TCTD và chủ để đi vay mà đối tượng là tài sản thì đây là quan hệ cho thuê tài chính, thông qua hợp đồng thuê mua tài chính chứ không phải là hoạt động cho vay. Về nguyên tắc đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là một số tiền xác định, được các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng. Đây chính là điểm khác biệt rõ rệt nhất của hợp đồng tín dụng so với các hợp đồng dân sự khác. Theo đó, xét thấy đối với các hợp đồng khác, đối tượng của hợp đồng rất đa dạng có thể là hàng hoá, dịch vụ nói chung còn trong HĐTD đối tượng của hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn luôn là tiền. Thứ ba, về chủ thể trong mối quan hệ này thì bên cho vay trong HĐTD luôn là TCTD. Theo quy định của pháp luật hiện hành quy định cụ thể tại điều 20 , khoản 1
  16. 16. 11 luật các tổ chức tín dụng 2010 thì “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. TCTD bao gồm ngân hàng và TCTD phi ngân hàng. Bên cho vay có thể là một hoặc nhiều TCTD (trường hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định (được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản liên quan; có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng) Thứ tư, HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc: Năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới hạn vốn vay. TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị cấm theo quy định của pháp luật, không được cho vay đối với các trường hợp bị cấm, bị hạn chế . Thứ năm, hợp đồng tín dụng có độ rủi ro cao. Theo đó bên cho vay chỉ có thể nhận lại được số tiền đã cho vay cùng lãi suất sau một khoảng thời gian nhất định. Thời gian càng dài thì rủi ro càng lớn. Tính rủi ro của hợp đồng tín dụng còn được thể hiện ở chỗ rủi ro của hợp đồng tín dụng có tính dây chuyền, điều đó thể hiện ở việc không thu hồi vốn vay của tổ chức tín dụng không chỉ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của tổ chức tín dụng mà còn ảnh hưởng đến lợi ích người gửi tiền. Bởi lẽ, khác với các hợp đồng cho vay thông thường, bên cho vay dùng tiền thuộc sở hữu của mình để cho vay thì trong hợp đồng tín dụng các tổ chức tín dụng chủ yếu dùng tiền từ nguồn vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân. Do đó, nếu khoản cho vay không thu hồi được vốn, tổ chức tín dụng sẽ có nguy cơ mất khả năng chi trả cho người gửi tiền, đe dọa đến sự sống còn của tổ chức tín dụng, tác động dây chuyền đến toàn bộ nền kinh tế. Mặt khác, việc quy định hình thức của hợp đồng tín dụng luôn bằng văn bản cũng xuất phát từ tính rủi ro cao của hợp đồng tín dụng và tầm quan trọng của hợp đồng tín dụng, Luật ngân hàng của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định hợp đồng tín dụng phải được ký kết bằng văn bản. Ở Việt Nam, quy định này được ghi nhận trong Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng và theo Điều
  17. 17. 12 18 của Quy chế cho vay. Đây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, rõ ràng trong thoả thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có hoặc như đối với việc quy định thời hạn của hợp đồng tín dụng luôn được xác định trước và ghi trong hợp đồng tín dụng. Tuỳ theo mục đích sử dụng vốn vay mà thời hạn hợp đồng có thể ngắn hạn (dưới một năm), trung hạn (từ 1 đến 5 năm) hoặc dài hạn (trên 5 năm). Đây chính là khoảng thời gian mà bên vay có thể sử dụng nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng. Hết khoảng thời gian này, bên đi vay phải trả khoản tiền cả gốc và lãi cho tổ chức tín dụng. Có thể nói rằng mục đích của quy định này nhằm xác định rõ ràng trách nhiệm của người đi vay và bảo tồn vốn cho tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, thông qua hợp đồng tín dụng nhận thấy, đích cuối của HĐTD luôn nhằm mục đích lợi nhuận (hợp đồng có lãi suất). Trong giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, tổ chức tín dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp chi phí kinh doanh như: trả lãi tiền gửi, trả lương nhân viên…mà còn nhằm bù đắp những rủi ro có thể xảy ra cho tổ chức tín dụng và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiền. Vì vậy, việc thu hồi lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng mà còn xuất phát từ lợi ích của người gửi tiền và lợi ích của toàn xã hội. Như vậy, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay. Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của nó đối với nền kinh tế nên hợp đồng tín dụng ngân hàng có những nét đặc thù riêng. Vì vậy, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên phải thoả mãn tất cả các điều kiện đặt ra với hợp đồng tín dụng ngân hàng nhằm đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng cũng như hạn chế các rủi ro có thể xảy ra cho các bên trong quan hệ hợp đồng. 1.2 Lãi suất Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan hệ tín dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng. Đặc biệt các bên phải chú ý đến nội dung của hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc các bên thực hiện đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh
  18. 18. 13 và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và chủ thể đi vay. Một trong những điều khoản không thể thiếu của HĐTD là lãi suất cho vay. Khi các bên có sự đồng thuận ý chí và nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ về lãi và lãi suất thì HĐTD mới có đầy đủ ý nghĩa. 1.2.1. Khái niệm Được đề cập trong nhiều tài liệu lịch sử với những khía cạnh góc nhìn khác nhau, nhưng nhìn chung khái niệm lãi suất tương đối thống nhất và không có quá nhiều khác biệt. Dưới góc độ kinh tế, có thể hiểu: Lãi suất tín dụng còn gọi là tỉ suất lợi tức, là tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời gian (ngày, tuần, tháng, quý năm…) với tổng số vốn bỏ ra cho vay trong cùng thời gian đó . Theo Từ điển Luật học: Lãi suất là tỉ lệ phần trăm tính trên vốn đầu tư để xác định lãi của người đầu tư. Theo Bách khoa toàn thư: Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay từ một người cho vay [3]. Theo Điều 2 Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của NHNN Việt Nam và các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Thống đốc NHNN: Lãi suất được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên cho vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất. Bênh cạnh lãi đơn còn có cách tính lãi kép (là số tiền lãi không chỉ tính trên số tiền gốc mà còn tính trên số tiền lãi do số tiền gốc sinh ra) nhưng cách tính này không được pháp luật cho phép áp dụng trong hoạt động ngân hàng. 1.2.2. Phân loại lãi suất Lãi suất được chia thành nhiều loại dựa trên những tiêu chí khác nhau: - Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất: lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực. - Căn cứ vào phương thức đo lường: lãi suất đơn, lãi suất kép, lãi suất hiệu quả và lãi suất hoàn vốn.
  19. 19. 14 - Căn cứ vào tính chất khoản vay Bao gồm những loại lãi suất cơ bản nhất được ngân hàng áp dụng cho khách hàng khi muốn vay tín dụng. Lãi suất cơ bản: được áp dụng chung, làm cơ sở để ấn định các mức lãi suất phát sinh cho các dịch vụ tín dụng khác của ngân hàng. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngân hàng: lãi suất sinh ra mà ngân hàng phải trả cho khách hàng sử dụng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng. Lãi suất cho vay ngân hàng (lãi suất tín dụng): người vay tiền phải trả cho ngân hàng khi vay. Được chia thành nhiều mức lãi dựa theo hình thức vay là vay kinh doanh, trả góp, vay qua thẻ tín dụng, vay ngắn hạn… Lãi suất chiết khấu ngân hàng: áp dụng khi một cá nhân xin vay dưới dạng chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ cá giá trị. Được tính với tỷ lệ phần trăm theo mệnh giá thương phiếu, khấu trừ ngay từ ban đầu khi nhận tiền vay. Lãi suất tái chiết khấu: được ngân hàng Trung Ương áp dụng đối với các ngân hàng thương mại khi cho vay tái chiết khấu dưới dạng thương phiếu và giấy tờ có giá trị ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán. Lãi suất liên ngân hàng: áp dụng khi cho vay trên thị trường liên ngân hàng, giữa các ngân hàng với nhau qua quan hệ cung cầu vốn. Lãi suất liên ngân hàng được quy định bởi Ngân hàng Trung Ương, phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường và tỷ trọng sử dụng vốn. - Căn cứ giá trị thực Dựa theo giá trị của khoản vay, người ta cũng chia lãi suất thành 2 loại. Lãi suất danh nghĩa: được tính theo giá trị danh nghĩa, chưa bao gồm chỉ số tác động của lạm phát và công bố trên hợp đồng tín dụng. Lãi suất thực tế: được điều chỉnh từ lãi suất danh nghĩa, và những tác động của lạm phát thời điểm đó. Theo đó: Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát. - Căn cứ tính linh hoạt của lãi suất Lãi suất cố định: Cố định trước và trong thời gian vay, có thể biết trước để
  20. 20. 15 người vay tiền có thể quyết định vay hay không. Tuy vậy lãi suất cố định lại hạn chế khi không được thay đổi trong thời gian mặc cho những biến động của lãi suất thị trường. Lãi suất thả nỗi: Ngược lại với lãi suất cố định, khi có thể thay đổi tùy theo lãi suất thị trường trong thời hạn vay tín dụng. Nhược điểm là có thể nhận rủi ro, nhưng cũng có khi có lợi. - Căn cứ loại tiền cho vay Lãi suất nội tệ: lãi suất cho vay và đi vay đồng nội tệ. Lãi suất ngoại tệ: lãi suất cho vay và đi vay đồng ngoại tệ. - Căn cứ nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế Lãi suất quốc gia (lãi suất trong nước): tiền đề cho mọi hình thức cho vay tín dụng trong nước. Lãi suất quốc tế: áp dụng với các hợp đồng tín dụng quốc tế. - Dưới góc độ luật học, lãi suất ngân hàng được tập trung nghiên cứu ở các nội dung sau: + Căn cứ vào loại hình tín dụng, lãi suất bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay. + Căn cứ vào thời hạn áp dụng, lãi suất bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn. + Căn cứ vào độ ổn định của lãi suất, lãi suất bao gồm lãi suất cố định và lãi suất thả nổi. 1.2.2.1. Căn cứ vào loại hình tín dụng Lãi suất huy động là lãi suất mà các TCTD đưa ra khi huy động tiền gửi và quy định tỉ lệ phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng. Lãi suất cho vay là lãi suất mà TCTD đưa ra để thu từ người vay tiền. “Lãi suất cho vay phải bao gồm tất cả các chi phí huy động vốn, đủ bù đắp các chi phí quản lí và thực hiện khoản cho vay, trang trải được các loại rủi ro, lãi suất cho vay phải chứa đựng phần lợi nhuận hợp lí” . Mặt khác, lãi suất cho vay còn chịu sự chi phối của kì hạn vay, kì hạn càng dài lãi suất càng cao . Như vậy, lãi suất cho vay là lãi suất tính trên số vốn mà bên vay phải trả kèm theo gốc tiền vay.
  21. 21. Mã tài liệu : 600068 Tải đầy đủ luận văn theo 2 cách : - Link tải dưới bình luận . - Nhắn tin zalo 0932091562

×