Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

1

Share

Luận văn: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước

Luận văn thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam, cho các bạn tham khảo

Luận văn: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước

  1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG BỔNG NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC VIỆT NAM Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 934 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN QUANG THUẤN TS. NGUYỄN TUẤN ANH HÀ NỘI – 2019
  2. 2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong bản luận án là trung thực có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Hoàng Bổng
  3. 3. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ......................................................................................................................1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU..................................9 1.1. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kiểm toán và nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước.......................................................................................................9 1.2. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chất lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước.................................................................13 1.3. Khoảng trống nghiên cứu tiếp theo......................................................................17 1.4. Câu hỏi nghiên cứu và khung nghiên cứu của luận án ........................................19 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC................................................................21 2.1. Nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước ...................................................................21 2.2. Chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước ................................................28 2.3. nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước...................................38 2.4. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước...............................................................................................49 Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................................58 3.1. Khái quát về cơ quan kiểm toán nhà nước và nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước.............................................................................................................................58 3.2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước ..........................................76 3.3. Thực trạng hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước88 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAOCHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚCVIỆT NAM ................................................105 4.1. Quan điểm nâng cao chất lượng nguồn nhan lực kiểm toán nhà nước..............105 4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước ........................111 4.3. Kiến nghị............................................................................................................135 KẾT LUẬN..............................................................................................................139 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ.................141 LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ........................................141 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................142
  4. 4. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt ACCA The Association of Chartered Certified Accountants Hiệp hội Kế toán công chứng Anh quốc ASEANSAI ASEAN Supreme audit Institutions Tổ chức các cơ quan Kiểm toán tối cao khu vực Đông Nam Á CMKTNN Chuẩn mực kiểm toán nhà nước CNH Công nghiệp hóa CNTT Công nghệ thông tin CPA Certified Public Accountant Kế toán viên công chứng Úc HĐH Hiện đại hóa HĐND Hội đồng nhân dân INTOSAI The International Organisation of Supreme Audit Institutions Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao ISSAI International Stadards of Supreme Audit Institutions Chuẩn mực quốc tế của các cơ quan Kiểm toán tối cao KTV Kiểm toán viên KTVNN Kiểm toán viên nhà nước KSCLKT Kiểm soát chất lượng kiểm toán NNL Nguồn nhân lực NSNN Ngân sách nhà nước SAI Supreme Audit Institutions Cơ quan Kiểm toán tối cao UBND Ủy ban nhân dân UBTVQH Ủy ban thường vụ Quốc hội VTVL Vị trí việc làm
  5. 5. DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ Bảng 2.1: Phân loại sức khỏe theo thể lực 35 Bảng 3.1: Thống kê số lượng các cuộc kiểm toán do KTNN thực hiện (giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018) 61 Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả kiểm toán (từ năm 1994 đến năm 2017) 64 Bảng 3.3: Số lượng công chức, viên chức KTNN qua các năm 74 Bảng 3.4: Cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức theo lĩnh vực công tác và theo ngạch công chức (tính đến ngày 31/3/2018) 75 Bảng 3.5: Trình độ đào tạo của nguồn nhân lực 77 Bảng 3.6: Trình độ lý luận chính trị của nguồn nhân lực 79 Bảng 3.7: Cơ cấu nhân lực theo độ tuổi lao động (tính đến 31/3/2018) 82 Bảng 3.8: Tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực 83 Bảng 3.9: Thái độ làm việc của nguồn nhân lực 84 Bảng 3.10: Mức độ hài lòng đối với công việc, chế độ đãi ngộ 86 Bảng 3.11: Đánh giá đạo đức nghề nghiệp của KTV nhà nước 87 Bảng 3.12: Đánh giá công chức, viên chức năm 2017 90 Bảng 3.13: Bảng hệ số lương của Tổng Kiểm toán nhà nước 96 Bảng 3.14: Bảng phụ cấp theo nghề đối với CBCC KTNN 96 Bảng 4.1: Nhu cầu công chức, viên chức theo lĩnh vực công tác của KTNN đến năm 2030 120 Bảng 4.2: Nhu cầu công chức, viên chức theo ngạch bậc của KTNN đến năm 2030 121 Bảng 4.3: Nhu cầu công chức, viên chức theo chuyên môn đào tạo của KTNN đến năm 2030 122 Bảng 4.4: Nhu cầu sử dụng công chức tại các đơn vị thực hiện nhiệm vụ kiểm toán của KTNN đến năm 2030 124 Biểu 3.1: Cơ cấu nhân lực theo chuyên ngành đào tạo 78 Biểu 3.2: Cơ cấu nhân lực theo giới tính 81 Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án. 20 Hình 2.1: Hệ tiêu chí đánh giá chất lượng NNL KTNN 30
  6. 6. Phụ lục 1: PHỤ LỤC Cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan KTNN hiện nay Phụ lục 2: Cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan KTNN đến năm 2030 Phụ lục 3: Danh mục vị trí việc làm đối với công chức của KTNN Phụ lục 4: Danh mục vị trí việc làm đối với viên chức của KTNN Phụ lục 5: Bảng phỏng vấn sâu (dành cho chuyên gia, nhà quản lý thuộc KTNN) PhỤ lục 6 Phiếu khảo sát (dành cho nhân lực KTNN) Phụ lục 7: Phiếu khảo sát chất lượng nguồn nhân lực KTNN (dành cho đơn vị được kiểm toán)
  7. 7. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) hiện nay ở Việt Nam, con người và nguồn nhân lực (NNL) được coi là nhân tố quyết định; trong đó, cán bộ, công chức là một bộ phận của NNL có vai trò đặc biệt to lớn trong sự nghiệp phát triển của đất nước. Khẳng định vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[59, tr. 269]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướctiếp tục nhấn mạnh: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [12]. Trong tổ chức, nguồn nhân lực với vai trò là nguồn lực trọng tâm quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức, vì vậy nhiệm vụ quan trọng sống còn trong công tác phát triển nguồn nhân lực của mỗi tổ chức là phải làm thế nào để xây dựng, phát triển và duy trì nguồn nhân lực có chất lượng cao, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ tạo ra nguồn nhân lực có khả năng cao hơn về năng lực, trình độ, phẩm chất, uy tín, góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững của tổ chức trong tiến trình hội nhập quốc tế. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các tổ chức là tổng thể các nội dung, cách thức, phương pháp làm biến đổi các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực một cách hợp lý về quy mô và trình độ đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển của tổ chức với hiệu quản ngày cành cao. Kiểm toán là một nghề đòi hỏi người làm kiểm toán phải đáp ứng các yêu cầu cao về đạo đức, trình độ, năng lực, kinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghiệp. Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao đã khuyến nghị:
  8. 8. 2 “Cán bộ và nhân viên kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao phải có đủ năng lực cần thiết và đạo đức để hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ của mình. Ngay từ lúc tuyển dụng vào biên chế của cơ quan kiểm toán tối cao phải quan tâm đến trình độ kiến thức và năng lực trên mức độ trung bình cũng như thực tế nghiệp vụ ở mức thỏa đáng của các ứng viên. Cần quan tâm ở mức cao nhất đến việc bồi dưỡng lý luận và thực tế nghiệp vụ trên bình diện nội bộ, đại học và quốc tế cho tất cả các công chức kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao và khuyến khích công việc đó bằng mọi phương tiện, kể cả mặt tài chính và tổ chức”[79]. Vì vậy, nhân lực ngành kiểm toán cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Ở Việt Nam, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) là một thiết chế mới, được thành lập do yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Qua hơn 20 năm hoạt động, từ một cơ quan không có tổ chức tiền thân và chưa có tiền lệ hoạt động, KTNN đã trở thành công cụ kiểm tra, giám sát quan trọng và hữu hiệu của Nhà nước trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Qua hơn 20 năm hoạt động, NNL KTNN đã có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Chất lượng NNL được nâng cao trên cả ba mặt: Trí lực, thể lực và tâm lực. Đến nay, KTNN đã xây dựng được NNL có chất lượng cao về trình độ chuyên môn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp trong sáng theo phương châm “Công minh, chính trực, nghệ tinh, tâm sáng”. Chất lượng NNL không ngừng được nâng cao là nhân tố quyết định cho việc nâng cao chất lượng kiểm toán đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu giám sát, quản lý, điều hành của Quốc hội, Chính phủ, góp phần tăng cường tính minh bạch, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu hiến định, nhu cầu nhân lực của KTNN cần phải được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; song, thực tế hiện nay NNL của KTNN hiện đang còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa đáp
  9. 9. 3 ứng yêu cầu nhiệm vụ kiểm toán trong môi trường công nghệ thông tin của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và hội nhập quốc tế. Từ đó, đòi hỏi phải xây dựng NNL KTNN tăng cả về quy mô và chất lượng, đảm bảo cơ cấu hợp lý, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, tinh thông về nghiệp vụ chuyên môn, chuyên nghiệp, tương xứng với yêu cầu của nghề nghiệp kiểm toán và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng chất lượng NNL của KTNN cũng như tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL cho ngành KTNN là công việc thực sự cần thiết hiện nay. Chính vì lẽ đó mà tác giả đã chọn đề tài "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam" làm luận án tiến sĩ chuyên ngành quản trị kinh doanh. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Luận án tập trung làm rõ thực trạng chất lượng NNL và các hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL KTNN Việt Nam trong thời gian tới. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Một là, nghiên cứu, hệ thống hóa những công trình khoa học đã được công bố ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án; trên cơ sở xác định khoảng trống mà luận án cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm rõ. Hai là, phân tích làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng NNL KTNN: Khái niệm, đặc điểm NNL KTNN; làm rõ các tiêu chí và luận giải các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL KTNN; nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN của một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượngNNL và hoạt động nâng cao chất luwong NNL KTNN ở Việt Nam hiện nay, làm rõ những ưu điểm,
  10. 10. 4 hạn chế và rút ra nguyên nhân của những hạn chế đó. Bốn là, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL KTNN ở Việt Nam hiện nay. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là chất lượng NNL và hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN ở Việt Nam. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian nghiên cứu: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu NNL đang làm việc tại cơ quan KTNN Việt Nam; - Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề liên quan tới chất lượng NNL KTNN ở Việt Nam từ năm 1994 đến hết năm 2017, chú trọng giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2017 và định hướng đến năm 2030; - Về phạm vi chất lượng nguồn nhân lực: Luận án nghiên cứu chất lượng NNL dựa trên 3 tiêu chí: Trí lực, thể lực, tâm lực với những tiêu chuẩn cơ bản dựa trên nguồn dữ liệu chủ yếu do KTNN công bố và do chính tác giả điều tra, khảo sát. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án a. Phƣơng pháp thu thập dữ liệu - Phương pháp chuyên gia được sử dụng nhằm làm sáng tỏ hơn các nội dung nghiêm cứu, đặc biệt là ý kiến của các chuyên gia giúp tác giả trong việc đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL KTNN. Tác giả tham vấn ý kiến chuyên gia là các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các nhà quản lý trong và ngoài nước về lĩnh vực kiểm toán và quản trị NNL. - Phương pháp phỏng vấn sâu để có được những thông tin chính xác hơn về thực trạng chất lượng NNL và hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN của Việt Nam: Tác giả đã phỏng vấn một số cán bộ quản lý của KTNN Việt Nam (Phụ lục 05).
  11. 11. 5 - Phương pháp điều tra, khảo sát: Thu thập thông tin qua bảng câu hỏi. Để đánh giá thực trạng và những ưu điểm, tồn tại của chất lượng NNL và hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN, tác giả đã tiến hành khảo sát 2 đối tượng khác nhau ở trong và ngoài KTNN; trong đó: - Đối tượng trong cơ quan KTNN: Công chức hành chính (150 người); viên chức sự nghiệp (50 người); KTV nhà nước (200 người); - Đối tượng ngoài KTNN: Tác giả khảo sát 150 người thuộc các đơn vị được kiểm toán. b. Phƣơng pháp xử lý và phân tích dữ liệu - Phương pháp xử lý và phân tích các dữ liệu thứ cấp. Trên cơ sở dữ liệu từ các tài liệu được cung cấp bởi cơ quan KTNN, các cơ quan có liên quan và các tài liệu thứ cấp khác được tác giả thu thập từ sách báo, tạp chí chuyên ngành, mạng internet…Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể, trong đó bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn; phương pháp khảo sát, tổng quan tài liệu, nghiên cứu kiểm chứng, phân tích và tổng kết thực tiễn, làm nổi bật những đặc điểm của thực trạng, xác định rõ những nguyên nhân làm cơ sở đề xuất những định hướng và giải pháp; phương pháp thống kê, so sánh: sử dụng các số liệu thống kê để phân tích, so sánh, tổng kết và rút ra các kết luận. - Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu sơ cấp: Thông qua số liệu thu thập được từ điều tra, khảo sát, tác giả tập hợp, thống kê và tổng hợp mô tả thành các bảng số liệu, các biểu đồ,... để đánh giá thực trạng chất lượng NNL KTNN và các hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN. 5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án Trên cơ sở khảo cứu các lý thuyết về chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán, phân tích thực trạng chất lượng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán Việt Nam thời gian
  12. 12. 6 qua, nghiên cứu bối cảnh thế giới và Việt Nam, xu hướng và yêu cầu về chất lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KTNN, luận án đã đạt được những đóng góp mới về lý luận, thực tiễn và những đề xuất có tính ứng dụng. - Đóng góp mới về lý luận + Luận án đã xây dựng được khái niệm về chất lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước. + Luận án đã nghiên cứu và đề xuất luận điểm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KTNN phải dựa vào bối cảnh tương lai, phù hợp với xu hướng thay đổi của môi trường và những tiến bộ nhanh chóng về khoa học và công nghệ do cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra. + Luận án, trên cơ sở kế thừa lý thuyết về chất lượng và nâng cao chất lượng NNL của các tác giả đi trước, đã nghiên cứu xây dựng được hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng NNL KTNN trên 3 nhóm tiêu chuẩn: Trí lực, thể lực, tâm lực, có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với lĩnh vực quản lý nhà nước và thực tiễn hoạt động của KTNN. - Đóng góp mới về thực tiễn Luận án đã phân tích làm rõ thực trạng chất lượng NNL và các hoạt động nâng cao chất lượng NNL thông qua thước đo về trí lực, thể lực, tâm lực của NNL đang làm việc tại cơ quan KTNN. Trên cơ sở đó, luận án đã đề xuất được tổng thể các giải pháp đầy đủ và đồng bộ trên cả 3 mặt: Nâng cao trí lực, nâng cao thể lực, nâng cao tâm lực của NNL KTNN Việt Nam trong thời gian tới; trong mỗi giải pháp đều đi sâu phân tích làm rõ sự cần thiết, cơ sở khoa học và những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện giải pháp, bảo đảm cơ sở khoa học và tính khả thi của giải pháp. Trong đó, tác giả đã nghiên cứu và đề xuất: + Danh mục hệ thống vị trí việc làm của KTNN để làm cơ sở cho việc tuyển dụng đúng số lượng, bảo đảm cơ cấu hợp lý; + Đề xuất KTNN cần xây dựng các kênh tuyển dụng riêng, thực hiện tuyển dụng theo vị trí việc làm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học vào thi
  13. 13. 7 tuyển công chức nhằm đảm bảo tối đa nguyên tắc cạnh tranh khách quan, công bằng, minh bạch, chống được tiêu cực trong thi cử, lựa chọn được những người thực sự có trình độ vào làm việc trong cơ quan KTNN; + Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng NNL KTNN phù hợp với những thay đổi môi trường quản lý nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới của Thế kỷ 21 - Những đề xuất có tính ứng dụng trong những năm tới: + Luận án nghiên cứu đề xuất thành lập Học viện Kiểm toán để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kiểm toán nói chung và NNL KTNN nói riêng. Học viện Kiểm toán sẽ là cơ sở đào tạo và nghiên cứu chuyên ngành đảm nhiệm chức năng nghiên cứu và đào tạo về kiểm toán đáp ứng yêu cầu phát triển của KTNN tại Việt Nam và có khả năng hội nhập với thế giới. + Đề xuất chính sách, chế độ đãi ngộ phù hợp đặc thù hoạt động kiểm toán, nhằm tạo động lực thu hút nhân tài; đồng thời, tạo sự gắn bó và động lực cống hiến hết mình của NNL hiện đang làm việc tại cơ quan KTNN. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn: - Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm phong phú thêm lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các tổ chức nhà nước nói chung và trong lĩnh vực cụ thể còn khá mới mẻ ở Việt Nam, đó là lĩnh vực kiểm toán nhà nước. - Ý nghĩa thực tiễn: KTNN là công cụ quan trọng để kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Để đáp ứng yêu cầu hiến định, nhu cầu nhân lực của KTNN cần phải được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, nhưng thực tế hiện nay nguồn nhân lực của KTNN hiện đang còn thiếu về số lượng, chất lượng còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Do đó, kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo có giá trị và đáng tin cậy đối với các nhà quản lý của KTNN, các
  14. 14. 8 cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng NNL KTNN Việt Nam hiện nay. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương như sau: - Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước. - Chương 3: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và hoạt đông nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay. - Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam.
  15. 15. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về kiểm toán và nguồn nhân lực kiểm toán nhà nƣớc Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kiểm toán và NNL KTNN được công bố; tiêu biểu trong số đó là một số công trình sau đây: - Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI), (2008), "Nâng cao năng lực cho các cơ quan Kiểm toán nhà nước" đã đề cập đến yêu cầu cần nâng cao năng lực cho các cơ quan Kiểm toán tối cao và làm thế nào để nâng cao năng lực kể cả về thể chế và con người thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đề cập đến việc nâng cao năng lực cho các cơ quan Kiểm toán nhà nước ở tầm vĩ mô mang tính nguyên tắc chung theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế (địa vị pháp lý, tính độc lập của cơ quan kiểm toán tối cao), chưa đi sâu phân tích về những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của các cơ quan kiểm toán tối cao của các nước trên thế giới [81]. - Josef Moser (2012), trong tham luận“Kinh nghiệm và sự cần thiết của việc đưa địa vị pháp lý của Cơ quan kiểm toán tối cao vào Hiến pháp” tại Hội tảo quốc tế “Nâng cao địa vị pháp lý, đảm bảo sự độc lập trong hoạt động của các cơ quan kiểm toán tối cao”, đã phân tích về tính độc lập và sự cần thiết phải quy định địa vị pháp lý của Cơ quan kiểm toán tối cao vào Hiến pháp theo Tuyên bố Li-ma và Tuyên bố Mê-hy-cô của INTOSAI. Trên cơ sở đó, tác giả đã minh chứng việc vận dụng các nguyên tắc cốt lõi trong hai bản tuyên bố quan trọng này của INTOSAI tại Áo: Là cơ quan kiểm toán tối cao độc lập, Tòa Thẩm kế Áo được quy định thẩm quyền trong Hiến pháp thực hiện kiểm toán tất cả hoạt động tài chính của nhà nước. Khi thực hiện các
  16. 16. 10 hoạt động đó, Tòa Thẩm kế Áo độc lập về tổ chức, không bị ràng buộc vào bất kỳ chỉ dẫn nào, độc lập về nhân sự và ngân sách của mình, tự thông qua chương trình kiểm toán và lựa chọn chủ đề, phương thức kiểm toán cũng như trong việc báo cáo kiểm toán. Là cơ quan độc lập với Hội đồng quốc gia Áo và nghị viện các bang, Tòa Thẩm kế Áo có trách nhiệm đánh giá hoạt động của các cơ quan công. Phạm vi kiểm toán của Tòa thẩm kế gồm cả cơ quan hành chính công và doanh nghiệp công. Mọi vấn đề liên quan đến nhân lực của Tòa Thẩm kế Áo đều được quản lý trên cơ sở độc lập nhưng trong khuôn khổ các quy định áp dụng chung đối với nhân viên Liên bang. Ngoài ra, Chủ tịch Tòa Thẩm kế Áo được quyền tham gia và phát biểu tại Ủy ban ngân sách, tại các cuộc thảo luận về báo cáo tài chính liên bang, cũng như các cuộc thảo luận về phân bổ Dự luật Tài chính liên bang liên quan đến Tòa Thẩm kế Áo [91]. - Vương Đình Huệ (2004), trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Định hướng chiến lược và những giải pháp xây dựng, phát triển hệ thống kiểm toán ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước” [28] đã bàn về chiến lược phát triển toàn diện hệ thống kiểm toán Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Với 8 đề tài nhánh, nghiên cứu về: Cơ sở lý luận và phương pháp luận về hoạt động kiểm toán và sự phát triển hệ thống kiểm toán ở Việt Nam; Vai trò của Kiểm toán đối với sự nghiệp CNH, HĐH và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; Định hướng chiến lược và giải pháp xây dựng, phát triển hệ thống kiển toán ở Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; Định hướng chiến lược và giải pháp phát triển Kiểm toán độc lập ở Việt Nam; Định hướng chiến lược và giải pháp phát triển Kiểm toán nội bộ ở Việt Nam; Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phân định chức năng, nhiệm vụ và xác lập mối quan hệ giữa hệ thống kiểm toán với Thanh tra nhà nước và thanh tra tài chính; Thực trạng và xu thế phát triển hệ thống kiểm toán tại các nước thành viêncủa tổ chức INTOSAI; Vai trò, vị trí của KTNN trong việc thực hiện chức năng giám sát
  17. 17. 11 của Quốc hội và HĐND các cấp, đề tài đã làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn cũng như đề xuất các giải pháp mang tính định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các công cụ kiểm toán, thanh tra, đặc biệt là KTNN trong công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở Việt Nam. - Nguyễn Hữu Vạn(2013) trong bài “Quy định về KTNN trong Hiến pháp, phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”[90] đã khẳng định việc quy định về KTNN trong Hiến pháp, không những có ý nghĩa quan trọng và cấp bách trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu lực hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mà còn tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và toàn diện cho tổ chức và hoạt động của KTNN, khắc phục những bất cập và hoàn thành tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Đây là một mốc lịch sử trong tiến trình 20 năm xây dựng và phát triển của cơ quan KTNN. Sự kiện quan trọng này đã nâng tầm KTNN từ cơ quan do “Luật định” thành “Hiến định”, nâng cao vị thế, vai trò, trách nhiệm của KTNN trong kiểm toán hoạt động quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Đồng thời, đề cập đến một số các giải pháp để triển khai thực hiện quy định về KTNN trong Hiến pháp; trong đó nhấn mạnh: Kiện toàn lại tổ chức và tăng cường năng lực cho các đơn vị có chức năng tham mưu. Xây dựng đội ngũ công chức, KTV nhà nước bảo đảm đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt là phải có đạo đức nghề nghiệp trong sáng, công minh, chính trực, nghệ tinh, tâm sáng. Tích cực thực hiện chiến lược đào tạo để trong thời gian không dài có một đội ngũ chuyên gia đầu ngành đối với từng lĩnh vực chuyên môn, tiếp cận trình độ kiểm toán của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của KTV nhà nước. Xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm Quy chế hoạt động kiểm toán, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật để công tác kiểm toán đi vào kỷ
  18. 18. 12 cương, nề nếp, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng lòng tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với KTNN. - Đoàn Xuân Tiên (2016) trong bài “Tăng cường năng lực nội bộ để thực hiện Chiến lược đổi mới của KTNN Việt Nam” [76] đã làm rõ bối cảnh KTNN Việt Nam xây dựng Chiến lược đổi mới, nâng cao năng lực để nâng cao chất lượng kiểm toán theo Nghị quyết số A/66/209 của Liên Hợp Quốc (12/2011) kêu gọi các quốc gia tăng cường tính độc lập cho các cơ quan kiểm toán tối cao. Đây là lần đầu tiên KTNN xây dựng Kế hoạch chiến lược phát triển KTNN một cách bài bản, toàn diện, cụ thể theo từng mục đích, mục tiêu, các chỉ số đo lường gắn với từng hoạt động và thời gian thực hiện...Toàn bộ nội dung chính trong Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 đã được cụ thể hóa thông qua 8 Mục đích với 29 Mục tiêu chiến lược trong bản Kế hoạch chiến lược, hướng tới giá trị cốt lõi “Minh bạch - Chất lượng - Hiệu quả - Không ngừng gia tăng giá trị” và “Công minh - Chính trực - Nghệ tinh - Tâm sáng”. Đồng thời, đưa ra 7 giải pháp để thực hiện chiến lược đổi mới; trong đó nhấn mạnh: Xây dựng đội ngũ KTVđủ về số lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao: Hàng năm tuyển dụng thêm đội ngũ KTV để đáp ứng đủ số lượng đảm bảo nhiệm vụ kiểm toán theo yêu cầu chiến lược; nâng cao chất lượng tuyển dụng đầu vào đội ngũ KTV, đáp ứng yêu cầu trình độ cao, kiến thức toàn diện, kinh nghiệm tốt; từng bước cơ cấu, luân chuyển, sắp xếp lại đội ngũ KTV hợp lý; đẩy nhanh việc đổi mới nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm; tăng cường có hiệu quả và hiệu lực công tác giáo dục và quản lý đạo đức nghề nghiệp đối với KTV, để đảm bảo tính liêm chính, độc lập, khách quan; yêu cầu trình độ, năng lực và kỹ năng chuyên môn; thận trọng nghề nghiệp và bảo mật theo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và các chuẩn mực kiểm toán.
  19. 19. 13 1.2. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về chất lƣợng và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nƣớc Tiêu biểu là một số công trình sau đây: - “Quản lý nguồn nhân lực" của INTOSAI, đây là hướng dẫn do Nhóm làm việc tăng cường năng lực cho các cơ quan Kiểm toán nhà nướccủa INTOSAI ban hành vào năm 2012. Hướng dẫn này với mục đích giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý của các cơ quan Kiểm toán nhà nướchiểu được nguồn nhân lực cơ quan Kiểm toán nhà nướclà gì và họ cần gì từ đội ngũ cán bộ của mình. Hướng dẫn này cũng là một tài liệu bổ ích dành cho các kiểm toán viên nhà nước nhằm đảm bảo công việc của họ phù hợp với các thông lệ quốc tế tốt nhất. Hơn nữa, hướng dẫn này rất hữu ích đối với tất cả cán bộ trong cơ quan Kiểm toán nhà nước có vai trò lãnh đạo, điều hành. Khi các nhân viên chuyên về công tác quản lý nhân lực xây dựng được cơ sở pháp lý, hệ thống và các chính sách thì những nhà quản lý các cấp trong cơ quan Kiểm toán nhà nướccần tạo cơ hội cho các nhân viên xây dựng và phát triển, khuyến khích nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ và ngay cả khi họ không đạt được kỳ vọng đề ra thì cũng đảm bảo được rằng họ sẽ có cách ứng xử một cách phù hợp. Hướng dẫn này cũng khẳng định một điều rằng vấn đề cốt lõi của một cơ quan Kiểm toán nhà nướcđó là khẳng định được cơ quan đó có khả năng thu hút, sử dụng số lượng cán bộ phù hợp với kinh nghiệm và kỹ năng làm việc hiệu quả. Hướng dẫn đề cập đến cách thức thành lập bộ phận quản lý nguồn nhân lực trong một cơ quan Kiểm toán nhà nước, xây dựng chiến lược và chính sách nguồn nhân lực, xây dựng các tiêu chí khả năng làm việc; tuyển chọn nhân sự; khen thưởng và xử phạt, chế độ đãi ngộ; đào tạo và bồi dưỡng cho kiểm toán viên nhà nước[8]. - “Việt Nam sở hữu NNL kiểm toán, kế toán đầy tiềm năng”,Alex Malley, Tổng giám đốc toàn cầu CPA Australia, Báo Dân trí ngày 30/5/2012[2]. Bài viết đã nhận định Việt Nam đang phải đối mặt với việc
  20. 20. 14 thiếu NNL về kế toán và kiểm toán theo chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, khảo sát cũng cho thấy lượng sinh viên học các ngành kế toán, kiểm toán càng ngày càng tăng, cho thấy Việt Nam đang sở hữu nguồn nhân sự đầy tiềm năng. Bài viết cũng đặt ra vấn đề tại sao các kế toán và KTVcủa Việt Nam cần phải có các bằng cấp, chứng chỉ của các tổ chức nghề nghiệp trên thế giới và vai trò của công tác đào tạo để phát triển NNL thông qua việc chia sẻ các kinh nghiệm chuyên môn, mang tính kĩ thuật; tiến hành nghiên cứu và chia sẻ các kết quả nghiên cứu đó và những chương trình khác như: Cấp học bổng cho các cán bộ của Bộ cũng như các sinh viên của các trường đại học. Tuy nhiên, nội dung bài viết cũng chủ yếu đề cập đến lĩnh vực kiểm toán độc lập (các doanh nghiệp kiểm toán), chưa quan tâm nhiều đến lĩnh vực KTNN [2]. - Phạm Văn Sơn(2018), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp xây dựng”, Luận án của Tiến sĩ [69]. Tác giả đãthành công trong việc vận dụng lý thuyết bộ ba tiêu chí về Trí lực - Thể lực - Tâm lực làm nền tảng để xây dựng khung lý thuyết, phân tích đánh giá thực trạng chất lượng NNLvà đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng NNL trong các doanh nghiệp xây dựng thuộc Bộ Xâydựng Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, những phân tích đánh giá này có thể là điển hình đại diện cho lĩnh vực hoạt động kinh tế (các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế), song cần phải được điều chỉnh cho phù hợp mục tiêu nghiên cứu và phù hợp với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. - Nguyễn Bắc Son (2005), “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa” Luận án tiến sĩ. Đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trong khu vực quản lý nhà nước dựa trên 3 nhóm tiêu chí đó là: Năng lực trình độ bao gồm: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm công tác và sức khỏe. Năng lực thực thi nhiệm vụ bao gồm: mức độ hoàn thành nhiệm vụ, mức độ đảm nhận chức trách nhiệm vụ.
  21. 21. 15 Khả năng nhận thức bao gồm: mức độ nhận thức về sự thay đổi công việc trong tương lai, mức độ sẵn sàng đáp ứng sự thay đổi trong công việc... để thấy rõ những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại của đội ngũ nguồn nhân lực này, đồng thời tìm ra những nguyên nhân có được các ưu điểm cũng như những tồn đọng trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ quản lý Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [69]. - Đặng Thị Hồng Hoa (2016), "Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay", Tạp chí Cộng sản số 5/2016. Trên cơ sở quan điểm của Đảng về đánh giá cán bộ và quy định của pháp luật, tác giả đề xuất hệ tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay, bao gồm: (1) Hệ thống các yếu tố cần có của bản thân đội ngũ cán bộ để đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ, đó là: Phẩm chất chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; năng lực; trình độ; phong cách làm việc; sức khoẻ và độ tuổi; (2) Mối quan hệ của đội ngũ cán bộ với môi trường, điều kiện công tác cụ thể (với đường lối, nhiệm vụ chính trị, tổ chức và cơ chế, chính sách); (3) Mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ (kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của đội ngũ cán bộ); (4) Sự tín nhiệm của tổ chức và nhân dân (thông qua các tổ chức của hệ thống chính trị và nơi ở của cán bộ) [35]. - Vương Đình Huệ (2009), "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, kiểm toán viên nhà nước trong sạch, vững mạnh", Tạp chí Cộng sản số 8/2009. Bài viết đã đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, KTV nhà nước trong 15 năm hoạt động của KTNN (1994 – 2009). Bài viết đã nêu ra mục tiêu của công tác cán bộ của KTNN trong thời kỳ mới; đồng thời, đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện là: (1) Nâng cao chất lượng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ về số lượng, cơ cấu chuyên môn và cơ cấu ngạch hợp lý; (2) Đào tạo, nâng cao chất lượng NNL phù hợp với từng loại hình kiểm toán, theo từng chức danh gắn với tiêu chuẩn hóa cán
  22. 22. 16 bộ; (3) Đổi mới và tổ chức thực hiện tốt công tác đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ; tiếp tục đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ; (4) Tăng cường công tác quản lý, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; (5) Thực hiện tốt chính sách đãi ngộ trong phạm vi nguồn lực được giao và quy định của Nhà nước. Các giải pháp được đề cập trên đây là khá toàn diện, song mới chỉ là những định hướng mang tính chiến lược, chưa có điều kiện đi sâu phân tích về sự cần thiết, cơ sở khoa học và những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện giải pháp [30]. - Đoàn Xuân Tiên (2013), “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, kiểm toán viên theo định hướng Chiến lược phát triển cơ quan Kiểm toán nhà nướcđến năm 2020”,Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của KTNN,đã có những đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của KTNN; trên cơ sở xác định được những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức theo mục tiêu chiến lược, đề tài đã đề xuất các giải pháp về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡngcông chức, KTVNN theo định hướng chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 [73]. - Hà Thị Mỹ Dung (2015), “Nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán nhà nước”, Luận án Tiến sĩ, đã có nhiều thành công trong việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng đội ngũ KTV nhà nước. Tác giả đã chỉ rõ các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ KTV nhà nước và đã đề xuất các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ KTV nhà nước: (1) Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của mỗi KTV nhà nước: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của KTV nhà nước; (2) Số lượng và cơ cấu đội ngũ KTV nhà nước: Số lượng KTV nhà nước, cơ cấu về ngạch, cơ cấu về ngành nghề đào tạo; (3) Năng lực của KTV nhà nước: Trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, tình trạng sức khỏe (thể chất tâm lý); (4) Khả năng hoàn thành nhiệm vụ của KTV
  23. 23. 17 nhà nước [8]. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của Luận án chỉ giới hạn những vấn đề liên quan tới kiểm toán viên nhà nước (tức là những người trực tiếp thực hiện công tác kiểm toán của cơ quan Kiểm toán nhà nước), chưa đề cập toàn diện chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước. Điểm khác biệt cơ bản giữa luận án của tác giả với luận án này là cách tiếp cận dựa trên bộ 3 tiêu chí: Trí lực bao gồm trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề, kinh nghiệm làm việc; Thể lực được thể hiện thông qua thể chất và sức khỏe; Tâm lực bao gồm thái độ làm việc, tâm lý làm việc và khả năng chịu áp lực công việc đểđolường chất lượng nguồn nhân lực, để làm thước đo phân tích đánh giá chất lượng NNL KTNN ở nước ta hiện nay và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng NNL KTNN trong thời gian tới. 1.3. Khoảng trống nghiên cứu tiếp theo Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên cho thấy các công trình nghiên cứu đều làm rõ được sự cần thiết và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong từng doanh nghiệp, từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể. Một số công trình cũng đã đề cập đến vấn đề chất lượng của đội ngũ kiểm toán viên của KTNN dưới góc độ cơ cấu, phẩm chất, năng lực chuyên môn.Tuy nhiên, tác giả nhận thấy một số vấn đề sau đây chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa sâu cần được tiếp tục làm rõ về lý luận và thực tiễn: - Chưa có những nghiên cứu về sự thay đổi của môi trường hoạt động, đặc biệt là những nhân tố của cách mạng công nghiệp 4.0 tác động đến chất lượng nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước nói riêng. Những thay đổi của môi trường hoạt động đặt ra những yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước như thế nào và giải pháp cho vấn đề này.
  24. 24. 18 - Chưa có những nghiên cứu lý thuyết đầy đủ về đặc điểm nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước làm cơ sở cho nghiên cứu và đề xuất các tiêu chí chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán. - Chưa có những khảo cứu toàn diện về thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực công, cụ thể là nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước theo bộ 3 tiêu chí: Trí lực, thể lực, tâm lực. - Các công trình nghiên cứu vẫn chưa có những đánh giá xác thực về chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước phù hợp với điều kiện môi trường kinh tế xã hội đang có nhiều chuyển biến, nhất là về chính sách tài chính công, về quản lý các khoản đầu tư công và yêu cầu nâng cao hiểu quả sử dụng tài sản công. Những chuyển biến này đang đặt ra những đòi hỏi khách quan về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong dài hạn. - Các công trình đã công bố cũng không đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán theo các tiêu chí chi tiết về tâm lực, thể lực và trí lực. Với những khoảng trống về lý luận và thực tiễn trên đây, chủ đề nghiên cứu “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam” sẽ đi sâu nghiên cứu về hoạt động nâng cao chất lượng NNL dựa trênnền tảng lý thuyết bộ ba tiêu chí về Trí lực - Thể lực - Tâm lực; trong đó, làm rõ các tiêu chuẩn cụ thể của từng tiêu chí cho phù hợp đặc thù NNL khu vực công và đặc thù của KTNN; đồng thời, lấy đó làm thước đo để phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng NNL và hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN Việt Nam hiện nay.
  25. 25. 19 1.4. Câu hỏi nghiên cứu và khung nghiên cứu của luận án 1.4.1. Câu hỏi nghiên cứu của luận án Để làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến chất lượng NNL KTNN Việt Nam, tác giả đặt ra câu hỏi tổng quát và câu hỏi nghiên cứu như sau: - Câu hỏi tổng quát: Làm thế nào để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam hiện nay? - Các câu hỏi nghiên cứu: + Câu hỏi 1: Các tiêu chí để đo lường chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam hiện nay? + Câu hỏi 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam hiện nay như thế nào? + Câu hỏi 3: Thực trạng hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam hiện nay như thế nào? + Câu hỏi 4: Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam cần có các giải pháp gì?
  26. 26. 20 1.4.2. Khung nghiên cứu của luận án Từ tổng quan tình hình nghiên cứu để tìm ra khoảng trống cần nghiên cứu trên đây, tác giả xây dựng khung nghiên cứu của luận án như sau: Sơ đồ 1.1. Khung nghiên cứu của luận án (Nguồn: Tác giả đề xuất) Vấn đề nghiên cứu Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam. Kết quả nghiên cứu Hoạt động nâng cao chất lượngNNL KTNN thời gian qua còn thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu. Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL KTNN ở Việt Namđến năm 2030. Phƣơng pháp nghiên cứu Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, chuyên gia; phỏng vấn sâu, quan sát nơi làm việc, nghiên cứu định tính và định lượng. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu và phát triển cơ sở lý luận về chất lượng NNL và nâng cao chất lượng NNL tổ chức công nói chung, KTNN nói riêng theo 3 nhóm tiêu chuẩn trí lực, thể lực và tâm lực; - Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượngNNL và hoạt động nâng cao chất lượng NNL KTNN ở Việt Nam; - Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng NNL KTNN ở Việt. Nam.
  27. 27. 21 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC 2.1. Nguồn nhân lực kiểm toán nhà nƣớc 2.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực Một quốc gia muốn phát triển phải biết khai thác và phát huy hài hòa các nguồn lực của sự phát triển kinh tế, xã hội, đó là: Tài nguyên thiên nhiên, vốn, con người…Trong các nguồn lực đó, con người luôn được xác định là yếu tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định và giữ vai trò chi phối đối với các nguồn lực khác. Các nguồn lực khác chỉ phát huy tác dụng khi có sự tác động, khai thác và sử dụng của con người; con người mà cụ thể là trí tuệ con người là nguồn lực có tiềm năng vô hạn nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý.Ngày nay, sự giàu mạnh của một quốc gia không còn phụ thuộc quá nhiều ở vốn vật chất (vốn, tài nguyên thiên nhiên...) mà phụ thuộc chủ yếu vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Mặc dù, đều thừa nhận về vai trò quyết định của nguồn lực con người; song hiện nay, trên thế giới cũng như trong nước vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về NNL. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.Theo nghĩa hẹp,NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực,trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động[92].
  28. 28. 22 Giáo trình Quản lý NNL xã hội, Học viện Hành chính quốc gia, Nxb Khoa học và kỹ thuật Hà Nội năm 2008 đưa ra khái niệm NNL xã hội và NNL của tổ chức, theo đó: (1) NNL xã hội là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động; (2) Nguồn nhân của một tổ chức là một bộ phận cấu thành NNL của xã hội [26]. NNL của tổ chức là hệ con của hệ thống NNL xã hội, bao gồm tất cả những người làm việc trong tổ chức, từ thủ trưởng cao nhất đến nhân viên bình thường nhất, thấp nhất làm việc tay chân, đơn giản. Đó cũng là người đang chờ đợi để có thể vào làm việc cho tổ chức, tức là nguồn dự trữ của tổ chức. NNL của một tổ chức là một thuật ngữ được sử dụng để phân biệt với nhiều loại nguồn lực khác của tổ chức như quyền lực, tài lực (tài chính) vật lực (trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng). Từ những quan điểm nêu trên, tác giả cho rằng NNL là tổng thể số lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và tâm lực tạo nên năng lực cá nhân của bản thân mỗi con người và được tổ chức, xã hội đã và sẽ huy động vào quá trình lao động, tạo ra của cải vật chất cho sự phát triển của tổ chức, xã hội. NNL có thể đánh giá theo hai phương diện: Về số lượng và chất lượng. Số lượng nhân lực: Số lượng NNL được tính bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Đối với một tổ chức, doanh nghiệp thì NNL không bao gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang làm việc trong cơ quan, doanhnghiệp đó.Sự phát triển về số lượng NNL dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân; Chất lượng NNL: Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên 3 mặt: Trí lực, thể lực và tâm lực của nguồn nhân lực.
  29. 29. 23 2.1.2 Khái niệm và đặc điểm nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước 2.1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Từ quan điểm NNL của tổ chức là tất cả những người làm việc trong tổ chức đó, có thể hiểu NNL KTNN là tất cả những người làm việc trong cơ quan KTNN. Do KTNN là cơ quan nhà nước, nên NNL KTNN bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động; trong đó, KTV chiếm số đông trong tổng số nhân sự của KTNN. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức: - Cán bộ: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đây là bộ phận giữ vị trí lãnh đạo cơ quan KTNN. Hiện nay, ở KTNN chỉ có duy nhất Tổng KTNN là cán bộ [64]. - Công chức: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng. Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau: Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên. Ở KTNN, bộ phận này chủ yếu là KTV nhà nước và những người làm việc ở các đơn vị thuộc bộ máy điều hành của KTNN [64].
  30. 30. 24 Theo quy định của Luật Viên chức: - Viên chức: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Ở KTNN, bộ phận này làm việc ở các đơn vị sự nghiệp của KTNN[65]. Theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nươc: - KTV nhà nước: KTV nhà nước là công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch kiểm toán để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Chức danh KTV nhà nước gồm các ngạch: Kiểm toán viên; KTVchính; KTVcao cấp[68]. Đây là bộ phận trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Bộ phận này chủ yếu làm việc ở các đơn vị KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực. Ngoài ra, KTNN còn một bộ phận người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp. Bộ phận này bao gồm: Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp; lái xe; bảo vệ; vệ sinh; trông giữ phương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơ quan, đơn vị sự nghiệp;công việc khác. Từ khái niệm NNL và sự phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa về NNL KTNN như sau: NNL KTNN là tổng thể số lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân họ và cơ quan KTNN đã, đang và sẽ huy động vào quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
  31. 31. 25 2.1.2.2 Đặc điểm nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Để có cơ sở cho việc hoạch định đúng đắn các chính sách phát triển và sử dụng có hiệu quả NNL KTNN Việt Nam, một vấn đề quan trọng là phải xuất phát từ đặc điểm của NNL KTNN cũng như xu hướng biến đổi của nó. Những đặc điểm chủ yếu của NNL KTNN Việt Nam, bao gồm: Một là, NNL KTNN liên quan trực tiếp hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước về tài chính, tài sản công NNL KTNN có vai trò quan trọng vì liên quan trực tiếp đến hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước về tài chính, tài sản công. Để đáp ứng yêu cầu nêu trên, chủ thể hoạt động kiểm toán – các KTV nhà nước phải bảo đảm các tiêu chuẩn của công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; đồng thời phải bảo đảm các tiêu chuẩn đặc thù của nghề nghiệp kiểm toán sau đây: - Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan - tiêu chuẩn này bảo đảm đạo đức nghề nghiệp cần thiết của người làm công tác kiểm toán; - Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kiểm toán, kế toán, tài chính, ngân hàng, kinh tế, luật hoặc chuyên ngành khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động kiểm toán - tiêu chuẩn này bảo đảm trình độ tối thiểu của nhân lực kiểm toán, được đánh giá thông qua bằng cấp đào tạo; - Đã có thời gian làm việc liên tục từ 05 năm trở lên theo chuyên ngành được đào tạo hoặc có thời gian làm nghiệp vụ kiểm toán ở KTNN từ 03 năm trở lên, không kể thời gian tập sự - tiêu chuẩn này bảo đảm kinh nghiệm công tác của người làm công tác kiểm toán, được đánh giá thông qua số năm công tác chuyên môn nghiệp vụ; - Có chứng chỉ KTV nhà nước – tiêu chuẩn này xác định tư cách thi hành công vụ kiểm toán của KTV nhà nước. Hai là, yêu cầu cao về trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Nghề nghiệp kiểm toán yêu cầu cao về trình độ chuyên môn và đòi hỏi điểm xuất phát cao về trình độ khi bước vào nghề so với các ngành nghề khác.
  32. 32. 26 Theo tuyên bố Lima: “Công chức kiểm toán của cơ quan KTNN phải có đủ năng lực cần thiết và đạo đức để hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ của mình. Ngay từ lúc tuyển dụng vào biên chế của cơ quan KTNN phải quan tâm đến trình độ kiến thức và năng lực trên mức độ trung bình cũng như thực tế nghiệp vụ ở mức thỏa đáng của các ứng viên” [78]. Đối với Việt Nam, Luật KTNN cũng đã quy định tiêu chuẩn tối thiểu đối với ứng viên tuyển dụng vào cơ quan KTNN đó là phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kiểm toán, kế toán, tài chính, ngân hàng, kinh tế, luật hoặc chuyên ngành khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động kiểm toán. Ngoài yêu cầu cao về trình độ chuyên môn, công chức, KTV nhà nước còn phải có đạo đức nghề nghiệp của người làm công tác kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế cũng như Chuẩn mực KTNN Việt Nam thì KTVphải đáp ứng các yêu cầu đạo đức nghề nghiệp: Liêm chính; độc lập, khách quan; trình độ, năng lực; kỹ năng chuyên môn; thận trọng nghề nghiệp và bảo mật. Ba là, có xu hướng trẻ hóa và phát triển nhanh chóng Do KTNN là hoạt động mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1994, trước khi thành lập cơ quan KTNN, chưa có cơ quan nào trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của KTNN. Do vậy, công tác xây dựng NNL KTNN phải tiến hành từ đầu; được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, NNL KTNN đã có sự phát triển nhanh chóng cả về quy mô và cơ cấu; đồng thời, có xu hướng trẻ hóa, nhất là sau những đợt KTNN tổ chức thi tuyển công chức vào KTNN. Ngoài ra, NNL kế toán - kiểm toán Việt Nam hiện rất dồi dào. Ở Việt Nam hiện nay có hơn 400 trường đại học, cao đẳng; trong đó, có hơn 300 trường có đào tạo chuyên ngành kế toán - kiểm toán, mỗi năm có hàng chục nghìn sinh viên chuyên ngành kế toán - kiểm toán và hàng nghìn sinh viên các chuyên ngành khác phù hợp với chuyên môn của KTNN tốt nghiệp ra trường là nguồn cung cấp nhân lực dồi dào cho cơ quan KTNN. Bốn là, luôn phải đối mặt với nhiều cám dỗ, rủi ro
  33. 33. 27 Hoạt động kiểm toán thường được thực hiện tại trụ sở đơn vị được kiểm toán – là các cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Do vậy, KTV nhà nước thường xuyên phải đi công tác xa nhà, xa cơ quan dài ngày, phân tán trên địa bàn rộng, tiềm ẩn nhiều rủi ro về chuyên môn, phẩm chất đạo đức của KTV. Kết luận, kiến nghị của KTV liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công, nên luôn đối diện với hành vi mua chuộc, hối lộ từ các bên có liên quan. Do vậy, nếu cơ quan KTNN không có các biện pháp quản lý chặt chẽ đạo đức nghề nghiệp của KTV, KTV làm ra kết quả kiểm toán thiếu bản lĩnh nghề nghiệp sẽ dễ bị mua chuộc bởi những lợi ích vật chất. Chính vì vậy mà tố chất “liêm chính, khách quan” là yêu cầu buộc phải có đối với KTV. Đây được coi là điều kiện tiên quyết trong đạo đức nghề kiểm toán và phải được KTV thường xuyên trau dồi, rèn luyện duy trì và phát huy. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV có trách nhiệm đưa ra ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị về những nội dung đã kiểm toán và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những bằng chứng, đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán mà mình đã đưa ra. Do vậy, nếu KTV không chịu học tập nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật quy định của pháp luật, tuân thủ chuẩn mực, quy trình, phương pháp kiểm toán sẽ rất rủi ro về chuyên môn, ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán của KTNN. Thời gian công tác xa nhà, xa cơ quan dài ngày thiếu sự quản lý trực tiếp của các tổ chức đảng, chính quyền cũng là điều kiện thuận lợi khiến KTV dễ sa đà vào các tệ nạn rượu chè, cờ bạc, tệ nạn xã hội…; đồng thời, cũng gây khó khăn cho KTV trong việc chăm sóc gia đình, nhất là đối với những KTV nữ có con nhỏ… Đặc điểm này, vừa đòi hỏi đội ngũ KTV nhà nước về cả trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp; vừa phải có chế độ đãi ngộ thích hợp;
  34. 34. 28 vừa đòi hỏi cơ quan KTNN phải có cơ chế kiểm soát chất lượng kiểm toán và quản lý đạo đức nghề nghiệp chặt chẽ, phù hợp và hiệu quả. 2.2. Chất lƣợng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nƣớc 2.2.1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng NNL. Theo Võ Thành Khối (2010): “Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của NNL” [57, tr.14]. Ở đây, tác giả đã sử dụng cụm từ “những nét đặc trưng” để đánh giá chất lượng NNL, vì thế trí lực, thể lực, đạo đức cá nhân chỉ là những nét đặc trưng, có thể có những nét khác chưa được xétđến hoặc cần phải có những nét đặc trưng cho những lĩnh vực có đặc thù riêng. Đây là cách tiếp cận khoa học, thể hiện sự linh hoạt trong việc đánh giá chất lượng NNL bảo đảm mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng trong hoạt động thực tiễn. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, Đặng Thị Hồng Hoa (2016) cho rằng: “Chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay là tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của đội ngũ cán bộ về mặt con người và các mặt hoạt động, quy định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế”. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về đánh giá cán bộ, căn cứ vào Quy chế đánh giá cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ, Luật Cán bộ, công chức… và từ quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, tác giả đưa ra hệ tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay, bao gồm: (1) Hệ thống các yếu tố cần có của bản thân đội ngũ cán bộ để đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ, đó là: Phẩm chất chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; năng lực; trình độ; phong cách làm việc; sức khoẻ và độ tuổi; (2) Mối quan hệ của đội ngũ cán bộ với môi trường, điều kiện công tác cụ thể; (3) Mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ; (4) Sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân
  35. 35. 29 (thông qua các tổ chức của hệ thống chính trị và nơi ở của cán bộ) và sự tín nhiệm của các cấp ủy, các cơ quan tham mưu đối với đội ngũ cán bộ [35]. Mặc dù tác giả đưa ra được các tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ để có thể định lượng được, song một số tiêu chí còn trừu tượng, chưa phân định rõ thuộc về cá nhân người cán bộ hay thuộc về đội ngũ cán bộ. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: “Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ” [9]. Như vậy, có thể thấy quan điểm về chất lượng NNL của các tác giả nêu trên không hoàn toàn có sự thống nhất với nhau. Các tiêu chí được sử dụng làm thước đo để đánh giá chất lượng NNL được thể hiện dưới những khía cạnh khác nhau về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác..; song, tựu chung lại đều là sự biểu hiện cụ thể của các mặt: Trí lực, thể lực, tâm lực của NNL. Từ sự phân tích các quan điểm trên đây và từ thực tiễn hoạt động của KTNN, tác giả mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình về chất lượng NNL KTNN như sau: Chất lượng NNL KTNN là sự thống nhất giữa các mặt: Trí lực, thể lực, tâm lực của NNL, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụcủa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, KTV nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan KTNN. Do NNL KTNN thuộc khu vực công, nên những tiêu chuẩn trong các tiêu chí về trí lực, thể lực, tâm lực có sự điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp khu vực công và đặc thù hoạt động KTNN, cụ thể: - Trí lực, bao gồm các tiêu chuẩn: Trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, kỹ năng chuyên và kinh nghiệm công tác. - Thể lực, bao gồm các tiêu chuẩn: Thể chất và sức khỏe. - Tâm lực, bao gồm các tiêu chuẩn: Thái độ làm việc, tâm lý làm việc và đạo đức nghề nghiệp kiểm toán. 2.2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng NNL kiểm toán nhà nước Từ quan điểm về chất lượng NNL KTNN nêu trên, có thể xác lập hệ tiêu
  36. 36. 30 chí để đánh giá chất lượng NNL KTNN theo các nhóm Trí lực, thể lực và tâm lực (Hình 2.1.) Hình 2.1. Hệ tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực KTNN Chất lượng nguồn nhân lực KTNN (năng lực hoạt động) Trí lực Thể lực Tâm lực Kiến thức Kỹ năng Knghiệm Căn bản; nền tảng Chuyên môn; lý luận chính trị Lập KH, CT kiểm toán; thu thập, phân tích bằng chứng, lập BC kiểm toán Giao tiếp, thuyết trình, thảo luận… Áp dụng phương pháp kiểm toán, sử dụng phương tiện công nghệ hiện đại Thâm niên công tác Thói quen vận dụng tri thức Vận dụng kỹ năng giải quyết công việc Sức khỏe thể chất Sức khỏe tinh thần Sức khỏe xã hội Thái độ làm việc; tâm lý làm việc Đạo đức nghề nghiệp
  37. 37. 31 Hình 2.1. cho thấy chất lượng nguồn nhân lực nói chung, chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước nói chung đề được thể hiện trên ba nhóm tiêu chí cho thấy năng lực hoạt động của mỗi cá nhân cấu thành nên nguồn nhân lực là trí lực, thể lực và tâm lực. Mỗi một nhóm tiêu chí được thể hiện bởi các tiêu chí cụ thể. Điều quan trọng đối với việc đạt được các tiêu chí chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở Hình 2.1. là năng lực được hình thành nên thông qua những giải pháp tác động của xã hội phù hợp với môi trường hoạt động trong từng giai đoạn phát triển của con người còn phần bẩm sinh (di truyền) đóng góp không nhiều. Vì vậy, để nâng cao chất lượng NNL (năng lực hoạt động của nguồn nhân lực) cần các giải pháp hữu hiệu để tác động tổng thể và tác động riêng đến từng tiêu chí chất lượng NNL KTNN. 2.2.2.1. Tiêu chí đánh giá trí lực của nguồn nhân lực Tiêu chí đánh giá trí lực của NNL KTNN được xác định bởi nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố cơ bản như: Trình độ văn hóa (kiến thức căn bản, nền tảng), trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm làm việc. Thứ nhất, trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ. Trình độ văn hóa được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy; qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cánhân. Đối với ngành KTNN, trình độ văn hóa làm nền tảng, cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn pháp luật, quy trình, chuẩn mực, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán trong thực tiễn hoạt động KTNN. Do vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, KTVNN phải có trình độ văn hóa cao. Thứ hai, trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn được hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua các cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học,.... Đó là những kiến thức người học được trang bị theo các chuyên ngành nhất định được thể hiện qua hệ thống bằng cấp: Trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học.
  38. 38. 32 Trình độ chuyên môn là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lượng NNL, tạo ra điều kiện, khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn để tăng năng suất lao động; đổng thời, làm cơ sở để bố trí, sắp xếp cho người lao động làm những công việc phù hợp, tạo hiệu quả công tác cao nhất. Đối với KTNN, để đáp ứng yêu cầu của cả ba loại hình kiểm toán là kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động, đòi hỏi KTV nhà nước phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kiểm toán, kế toán, tài chính, ngân hàng, kinh tế, luật hoặc chuyên ngành khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động kiểm toán. Thứ ba, trình độ lý luận chính trị: Trình độ lý luận chính trị là cơ sở xác định lập trường quan điểm của công chức nói chung và của KTV nhà nước nói riêng. Nghề kiểm toán được xã hội ghi nhận như một nghề nhạy cảm vì nó cận kề với sự cám dỗ mang tính vật chất, kết luận kiểm toán có thể thiếu khách quan nếu người làm ra nó thiếu bản lĩnh nghề nghiệp và bị mua chuộc bởi những lợi ích vật chất. Chính vì vây, có trình độ lý luận chính trị sẽ giúp công chức, KTV nhà nướcxây dựng được lập trường, quan điểm đúng đắn trong tiếp thu và áp dụng đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Thứ tư, kỹ năng chuyên môn: KTV nhà nước phải có các kỹ năng chuyên môn để thực hiện các công việc của một cuộc kiểm toán; có khả năng vận dụng các kỹ năng chuyên môn phù hợp với sự đa dạng, phức tạp của nhiệm vụ được giao; KTV nhà nước phải có kỹ năng lập kế hoạch, chương trình kiểm toán; kỹ năng thu thập, phân tích thông tin, thu thập bằng chứng kiểm toán để đưa ra các kết luận và kiến nghị về những nội dung đã kiểm toán hoặc đưa ra ý kiến trưng cầu giám định chuyên môn khi cần thiết; kỹ năng lập báo cáo kiểm toán, thuyết trình, thảo luận và các kỹ năng bổ trợ cần thiết khác phục vụ cho công việc kiểm toán; KTV nhà nước phải thực hiện thành thạo các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán và có khả năng sử dụng các phương tiện
  39. 39. 33 công nghệ hiện đại trong hoạt động kiểm toán. Để nâng cao kỹ năng chuyên môn, KTV nhà nước phải thường xuyên duy trì, cập nhật, bổ sung và nâng cao trình độ để thực hiện thành thạo các kỹ năng nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu thực tiễn kiểm toán trong môi trường pháp lý và tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển. Ngoài các kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, KTV nhà nước cũng phải có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc theo nhóm, có hiểu biết xã hội và văn hóa ứng xử để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thứ năm, kinh nghiệm làm việc: Kinh nghiệm làm việc thể hiện ở thâm niên công tác, đó là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kỹ năng của người lao động trong việc giải quyết công việc. Người có kinh nghiệm làm việc có khả năng giải quyết công việc nhanh chóng và hiệu quả hơn người ít kinh nghiệm, nhất là khi gặp những tình huống khó khăn, phức tap. Đối với ngành KTNN, đòi hỏi những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm toán phải có thời gian làm việc liên tục từ năm năm trở lên theo chuyên ngành được đào tạo hoặc có thời gian làm nghiệp vụ kiểm toán ở KTNN từ ba năm trở lên mà không kể thời gian tập sự. Tóm lại, trí lực được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người, quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, là yếu tố có vai trò ngày càng quyết định trong sự phát triển NNL, đặc biệt là trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại ngày nay. Việc khai thác trí lực của người lao động hoàn toàn phụ thuộc vào tổ chức mà cụ thể là phụ thuộc vào thủ trưởng và những người làm công tác nhân sự của tổ chức đó. Trên thực tế cho thấy phần lớn người lao động có trình độ chuyên môn cao thì tổ chức đó phát triển nhanh. Tuy nhiên cũng có những tổ chức mặc dù người lao động có trình độ chuyên môn cao, nhưng chưa tận dụng hết tiềm năng này nên tốc độ phát triển cũng như năng suất lao động của họ chưa cao. Đó là do cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng NNLchưa đượctốt.
  40. 40. 34 2.2.2.2. Tiêu chí đánh giá thể lực của nguồn nhân lực Như đã phân tích ở phần trên, trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh.Thể lực hay sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất và tinh thần. Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, năng lực lao động chân tay. Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hoạt động thực tiễn. Hiến chương của Tổ chức Y tế thế giới đã nêu: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hay thương tật” . Theo đó: Sức khỏe thể chất: được thể hiện một cách tổng quát là sự sảng khoái và thoải mái về thể chất. Càng sảng khoái, thoải mái càng chứng tỏ bản thân là người khoẻ mạnh. Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái về thể chất là: sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt của môitrường. Sức khỏe tinh thần: là hiện thân của sự thỏa mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần. Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản, ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời, ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh. Sức khoẻ tinh thần là sự biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức. Cơ sở của sức mạnh tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm. Sức khoẻ xã hội: sức khỏe xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa các thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan,... Nó thể hiện ở sự được tán thành và chấp nhận của xã hội. Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại. Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xãhội.
  41. 41. 35 Tình trạng sức khỏe được phản ánh bằng một hệ thống chỉ tiêu sau: Chiều cao trung bình (m), cân nặng (kg), tỷ lệ mắc bệnh mãn tính, tỷ lệ mắc các bệnh nghề nghiệp,... Một con người khỏe mạnh là người không có bệnh tật về thể chất và tinh thần minh mẫn. Thể lực hay chính là thể chất NNL thể hiện vóc dáng về chiều cao, cân nặng và có thang đo nhất định. Thể chất NNL được biểu hiện qua quy mô và chất lượng thể chất. Quy mô thể hiện số lượng người được sử dụng, thời gian NNL làm việc tại doanh nghiệp. Chất lượng thể hiện thông qua độ tuổi và giới tính. Thể chất thể hiện tiềm năng sức khỏe của con người, thể hiện một phần mức độ năng động và khả năng giải quyết công việc, thể chất tốt làm giảm khả năng mắc bệnh nghề nghiệp, làm cho chất lượng nhân lực được đảm bảohơn [69, tr.32-33]. Đối với ngành KTNN, do đặc thù nghề nghiệp đội ngũ KTV trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm toán phải thường xuyên công tác xa nhà dài ngày trên địa bàn cả nước, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Song, nhìn chung sự phân loại sức khỏe NNL KTNN được áp dụng theo quy định tại Thông tư 36/TTLT-BYT-BQP của Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng, như sau: Bảng 1.1. Phân loại sức khỏe theo thể lực STT Loại sức khỏe Nam Nữ Chiều cao (cm) Cân nặng (kg) Chiều cao (cm) Cân nặng (kg) 1 Rất khỏe ≥ 163 ≥ 51 ≥ 154 ≥ 48 2 Khỏe 160 - 161 47 - 50 152 - 153 47 - 48 3 Trung bình 157 - 159 43 - 46 150 - 151 42 - 43 4 Yếu 155 - 156 41 - 42 148 - 149 40 - 41 5 Rất yếu 153 - 154 40 147 38 - 39 6 Kém ≤ 152 ≤ 39 ≤ 146 ≤ 37 Nguồn: TT 36/TTLT-BYT-BQP ngày 17/10/2011 của BYT-BQP
  42. 42. 36 2.2.2.3. Tiêu chí đánh giá tâm lực của nguồn nhân lực Tâm lực là phẩm chất đạo đức, nhân cách và tinh thần của NNL. Để nâng cao chất lượng NNL ngoài trí lực và thể lực, còn phải tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người. Bởi vì, trí lực cũng như thể lực chỉ có thể tạo ra sức mạnh thúc đẩy tiến bộ xã hội khi chủ nhân của nó là những con người có phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt. Đối với ngành KTNN, tiêu chí đánh giá tâm lực của NNL bao gồm các yếu tố cơ bản: Thái độ làm việc, tâm lý làm việc và đạo đức nghề nghiệp của NNL. - Thái độ làm việc là sự quan tâm, tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao với những biểu hiện cụ thể như: Sự miệt mài, say sưa làm việc hàng ngày, chịu khó đi sâu nghiên cứu, học tập để thường xuyên nâng cao trình độ, khả năng, kinh nghiệm công tác, có tinh thần trách nhiệm và sự hiểu biết trong công tác, có tinh thần chủ động làm việc, có ý thức về thời gian làm việc và kỷ luật lao động,..của người lao động. - Tâm lý làm việc là vấn đề thuộc nội tâm chủ quan của cá nhân mỗi con người trong tổ chức. Tâm lý làm việc chịu sự chi phối của cả những yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan là vị trí, vai trò, uy tín của cơ quan, tổ chức mà người lao động làm việc; chế độ thù lao, chính sách cán bộ, môi trường và điều kiện làm viêc…Các yếu tố chủ quan chủ yếu phụ thuộc vào khí chất, tính cách của mỗi con người. - Đạo đức nghề nghiệp: Sự độc lập, quyền hạn và trách nhiệm của KTNN đặt ra yêu cầu cao về đạo đức nghề nghiệp đối với KTV nhà nước và các nhân sự khác tham gia vào hoạt động kiểm toán của KTNN. Trong toàn bộ hoạt động nghề nghiệp của KTV nhà nước nói chung và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và các công việc có liên quan đến hoạt động kiểm toán nói riêng,KTV nhà nước và các nhân sự khác tham gia vào hoạt động kiểm toán của KTNNphải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp: Liêm
  43. 43. 37 chính, độc lập, khách quan; trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn; thận trọng nghề nghiệp và bảo mật. Trong đó nhấn mạnh nguyên tắc “Liêm chính, độc lập, khách quan”. Liêm chính Liêm chính là giá trị cốt lõi của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. KTV nhà nước có nghĩa vụ tuân thủ triệt để các yêu cầu của Chuẩn mực và các quy định của KTNN đối với việc ứng xử trong hoạt động chuyên môn và trong mối quan hệ với đơn vị được kiểm toán, cụ thể: + Trong hoạt động kiểm toán, KTV nhà nước phải công minh, chính trực, thẳng thắn, trung thực để có chính kiến rõ ràng; công bằng, tôn trọng sự thật, không thành kiến và thiên vị; + KTV nhà nước phải trong sáng, gương mẫu, không được nhận tiền, quà biếu và tránh các quan hệ xã hội có thể dẫn đến việc phải nhân nhượng trong kiểm toán; + KTV phải thẳng thắn khi đưa ra các kết luận và kiến nghị về nội dung kiểm toán; phải bảo vệ ý kiến của mình dựa trên các bằng chứng kiểm toán và những lập luận đúng đắn mà không chịu tác động bởi sự can thiệp từ bên ngoài; + KTV nhà nước phải có thái độ cư xử đúng mực, không được có hành vi sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đơn vị được kiểm toán. Độc lập, khách quan + Trong hoạt động kiểm toán, KTV nhà nước phải thật sự độc lập, khách quan, không bị chi phối hoặc bị tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần khi kiểm toán và đưa ra kết luận, kiến nghị kiểm toán; + Khi tiến hành kiểm toán, KTV nhà nước chỉ tuân theo pháp luật, các chuẩn mực, quy trình, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán và các quy định khác của KTNN trong hoạt động kiểm toán; + KTV nhà nước phải báo cáo người có thẩm quyền để không tham gia
  44. 44. 38 kiểm toán ở đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc có quan hệ gia đình mà theo quy định của Luật KTNN là không được tham gia kiểm toán; KTV nhà nước phải báo cáo với người chịu trách nhiệm quản lý hoạt động kiểm toán về bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài có thể làm ảnh hưởng đến tính khách quan, trung thực trong hoạt động kiểm toán; + KTV nhà nước có nghĩa vụ phải kiểm soát bản thân để không dính líu vào những vấn đề mà mình có lợi ích liên quan làm ảnh hưởng đến hoạt động kiểm toán.Trong quá trình kiểm toán nếu có sự hạn chế về tính độc lập, khách quan thì phải tìm mọi cách loại bỏ sự hạn chế này; nếu không thể loại bỏ được thì phải báo cáo kịp thời cho người có thẩm quyền để có biện pháp giải quyết. Duy trì tính liêm chính, độc lập và khách quan của KTV nhà nước nhằm đảm bảo các kết luận và kiến nghị kiểm toán xác thực và hợp lý.Quy định về trình độ, năng lực và các kỹ năng chuyên môn của KTV nhà nước nhằm đảm bảo khả năng hoàn thành nhiệm vụ kiểm toán được giao.Quy định về sự thận trọng nghề nghiệp và bảo mật thông tin trong hoạt động kiểm toán nhằm bảo đảm sự đúng đắn, khách quan của các kết quả, kết luận, kiến nghị kiểm toán; đảm bảo thực hiện trách nhiệm bảo mật trong hoạt động kiểm toán của KTV nhà nước. 2.3. nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nƣớc 2.3.1. Khái niệm nâng cao chất lượng NNL kiểm toán nhà nước Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về nâng cao chất lượng NNL. Có quan điểm cho rằng: Nâng cao chất lượng NNL là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Một số tác giả khác lại quan niệm: Nâng cao chất lượngNNL là quá trình nâng cao năng lực của con người về
  45. 45. 39 mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất NNL thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội. Từ những quan điểm trên, tác giả cho rằng: Nâng cao chất lượng NNL KTNN là nâng cao năng lực của nhân lực đang làm việc tại cơ quan KTNN về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của KTNN trong tình hình mới. 2.3.2. Nội dung nâng cao chất lượng NNL kiểm toán nhà nước 2.3.2.1. Nâng cao trí lực Nâng cao trí lực bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, trong đó bao gồm các hoạt động cơ bản: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; đánh giá và tuyển dụng nhân lực. Thứ nhất, hoạt động đào tạo và bồi dưỡng NNL: Nâng cao trí lực chính là việc nâng cao trình độ văn hóa, kiến thức chuyên môn, kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm làm việc của người laođộng. Trình độ văn hóa và kiến thức chuyên môn mà NNL có được chủ yếu thông qua đào tạo, bồi dưỡng. Trong đó, đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. NNL KTNN bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, do vậy, KTNN có thể lực chọn các hình thức đào tạo, bổi dưỡng như: - Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức. - Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lýnhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo, quản lý. - Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao.
  • KhanhLinhNguyen3

    Jun. 18, 2020

Luận văn thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước Việt Nam, cho các bạn tham khảo

Views

Total views

821

On Slideshare

0

From embeds

0

Number of embeds

29

Actions

Downloads

2

Shares

0

Comments

0

Likes

1

×